Nghe thì có vẻ vô lý, nhưng thực sự, người khiến bạn tổn thương
chính là người mang phước lành đến cho bạn.
Theo đạo Phật sở dĩ chúng ta có mặt trong thế giới này, là do
chúng ta tạo nghiệp hoặc thiện hoặc chẳng thiện, nên chúng ta sống ở đây là để
trả nghiệp, cho mau hết, cho dứt để có được an vui.
Vừa trả nghiệp mà vừa làm sạch nghiệp, cũng giống như vừa tu mà
chỉ người khác tu, để làm thay đổi Nghiệp. Vừa nhẫn mà vừa tìm phương tiện khéo
léo để họ cũng nhẫn như mình, cũng từ bi nhân từ như mình, khi đã hiểu ra thì
sạch nghiệp với nhau, và sống an vui hạnh phúc đời này và đời sau.
Người khiến chúng ta bất mãn chính là đến để giúp ta hoàn thiện bản thân. Sau khi vượt qua, ta sẽ trưởng thành và mạnh mẽ hơn.
Người khiến chúng ta bất mãn chính là đến để giúp ta hoàn thiện bản thân. Sau khi vượt qua, ta sẽ trưởng thành và mạnh mẽ hơn.
Khi bị người khác mắng chửi thậm tệ, phải chăng bạn muốn họ phải
chịu đựng giống như mình? Tuy nhiên, khi chịu đựng những lời chửi rủa này,
chúng ta sẽ nhận được phúc báo. Vì vậy, chúng ta không nên phản kháng lại.
Người làm tổn thương người khác muốn giành lợi lộc về mình hoặc
có tâm địa không tốt. Người này chính là đang lãng phí tiền bạc của chính mình.
Người một mực thực hiện chữ “Nhẫn” chính là một mực nhận phước
lành. Người nhẫn nhục chịu đựng chính là đang mở ngân hàng, giống như biển rộng
dung nạp nước của hàng trăm con sông vậy.
Không nên để cơn tức giận tùy tiện bùng phát, vì nó sẽ tạo ra vô
vàn chướng ngại
“Chỉ một lời nói giận dữ cũng có thể tạo ra vô vàn tấm chắn”.
Khi chúng ta nổi tâm oán giận thì trí tuệ cũng không còn. Nó khiến lý trí bị
che mắt, và sử dụng cảm tính, không chỉ làm thương tổn chính mình, mà còn kết
oán với tất cả mọi người. Nếu không thể phá giải thù hận, thì con người trong
nghiệp mà oan oan tương báo.
Giận biểu hiện ở phát tiết nóng nảy. Oán là tự mình hờn dỗi và
sinh ra bệnh trạng về tâm lý.
Ngay cả khi bị xúc phạm và hãm hại, chúng ta cũng nên dùng thiện
tâm để báo đáp
Họ xúc phạm và hãm hại, là đang giúp chúng ta giải trừ đi nghiệp
chướng. Vì vậy, chúng ta không được để oán hận trong tâm. Nếu như để lại oán
hận, chúng ta không những không tiêu trừ được tội nghiệp mà còn tăng thêm
nghiệp chướng.
Thân thể, nội tâm và thiên nhiên nên hòa làm một
Đây là một phép dưỡng sinh của Đạo gia. Thất tình lục dục làm
loạn tự nhiên, làm loạn thân thể. Thất tình gồm có “Hỉ, nộ, buồn, vui, yêu, ác,
dục.” Trong đó, sức phá hoại mạnh nhất chính là sự phẫn nộ tức giận.
Giáo sư Lý Bình Nam cho biết, trong cuốn Hoàng Đế Nội Kinh,
người bình thường có tuổi thọ 200 tuổi. Người không sống được 200 tuổi chính là
sự phiền não đã khiến họ tự làm giảm tuổi thọ của chính mình.
Những người hành ác thì 3 phần làm tổn thương người khác nhưng
có tới 7 phần làm tổn thương chính mình
Nếu người có ác tâm đối với người khác thì người bị
hại chỉ bị làm tổn thương 3/10 mà thôi, còn người hành ác phải chịu tổn
thương đến 7 phần. Vì vậy, nếu muốn khỏe mạnh, muốn trường thọ, muốn tràn đầy
trí tuệ, thì người này phải yêu mến hết thảy mọi người, yêu đến ngay cả từng tế
bào thân thể mình.
Học cách không lo nghĩ là chúng ta đang đối xử tử tế với chính
mình
Dù có gặp bất kể chuyện gì không vui, chúng ta cũng phải học cách
không phiền não. Bởi vì phiền não khiến chúng ta già đi, tăng thêm gánh nặng
tinh thần và hủy hại thân thể của con người.
Cuộc đời là Trời ban, hạnh phúc là trách nhiệm của bản
thân
Quyết định tâm trạng của chúng ta vốn không phải là người khác,
mà là chính bản thân chúng ta.
Tâm của mỗi một người tựa như một mảnh ruộng, gieo nhân lành, vậy nên sẽ thu được quả lành, gieo nhân xấu, vậy sẽ thu được quả xấu.Nếu bạn có thể vui vẻ mà sống trọn mỗi một ngày của bạn, khiến cho sinh mệnh của bạn tự nhiên khỏe mạnh giống như cây cỏ ngoài đồng, hoặc tỏa hương, nở rộ giống như những đóa hoa. Thế thì, toàn bộ giới tự nhiên đều sẽ chúc mừng bạn.
Thậm chí, Thượng Đế cũng đều sẽ đến chúc mừng bạn. Đúng là như vậy đấy. Bởi vì vui vẻ có thể khiến con người ta trở nên duyên dáng xinh đẹp, còn thù hận, oán trách và đau khổ lại chỉ có thể khiến con người ta trở nên xấu xí hơn mà thôi.
Tướng do tâm sinh, nụ cười chính là một mặt gương sáng của tâm hồn, chiếu rọi hết thảy hạt giống được gieo trồng trong tâm.
Tâm của mỗi một người tựa như một mảnh ruộng, gieo nhân lành, vậy nên sẽ thu được quả lành, gieo nhân xấu, vậy sẽ thu được quả xấu.Nếu bạn có thể vui vẻ mà sống trọn mỗi một ngày của bạn, khiến cho sinh mệnh của bạn tự nhiên khỏe mạnh giống như cây cỏ ngoài đồng, hoặc tỏa hương, nở rộ giống như những đóa hoa. Thế thì, toàn bộ giới tự nhiên đều sẽ chúc mừng bạn.
Thậm chí, Thượng Đế cũng đều sẽ đến chúc mừng bạn. Đúng là như vậy đấy. Bởi vì vui vẻ có thể khiến con người ta trở nên duyên dáng xinh đẹp, còn thù hận, oán trách và đau khổ lại chỉ có thể khiến con người ta trở nên xấu xí hơn mà thôi.
Tướng do tâm sinh, nụ cười chính là một mặt gương sáng của tâm hồn, chiếu rọi hết thảy hạt giống được gieo trồng trong tâm.
Nếu như trong tâm bạn là hạt giống vui vẻ, thế thì quả được trổ
ra nhất định là nụ cười.
Nếu như trong tâm bạn là hạt giống đau khổ, thế thì quả được trổ
ra nhất định là nỗi đau thương.
Nếu như trong tâm bạn là hạt giống trách móc, thế thì quả được
trổ ra nhất định là nỗi oán hận.
Nếu như trong tâm bạn chứa đầy tình thương, thế thì quả được trổ
ra nhất định là lòng khoan dung.
Nếu như trong tâm bạn có tà ác, thế thì quả được trổ ra nhất
định là sự sa ngã trụy lạc.
Có một câu nói: “Chúng ta không thể thay đổi được thời tiết,
nhưng chúng ta có thể thay đổi được tâm trạng”. Bạn không cần phải cảm thấy
phiền não bởi trời lúc nào cũng mưa, bởi vì trời mưa chúng ta có thể không cần
phải đi tránh nắng. Bạn cũng không cần phải lo lắng bởi cái nắng cháy da, bởi
vì ánh mặt trời sáng rực sẽ không khiến bạn dẫm phải vũng bùn lầy.
Chẳng cần kiếm đâu xa xôi, trên đời này những thứ quý
giá nhất đều là miễn phí
Trên cuộc đời này, nhiều người hay than thở rằng cuộc đời thật
bất công, rằng “Ông trời không có mắt” nhưng bạn có biết rằng, nếu ông trời
“không có mắt”, không yêu thương nhân loại, thì nhân loại đã chết từ lâu rồi
không? Ông đã ban rất nhiều thứ miễn phí cho con người, chỉ có điều bạn coi đã
coi nó là hiển nhiên và không nhận ra mà thôi.
Ánh sáng mặt trời là miễn phí
Trên thế gian này, không sinh vật nào có thể sống sót nếu thiếu
ánh mặt trời. Thế nhưng có ai từng phải trả một đồng nào cho thứ ánh sáng kỳ
diệu đó chưa?
Không
khí là miễn phí
Một người chỉ cần là đang sống trên Trái đất này, có ai mà có
thể không hít thở mà có thể sống được? Thế nhưng từ xưa đến nay, đã có ai từng
phải trả tiền cho thứ không thể thiếu này chưa?
Tình yêu là miễn phí
Đoạn tình cảm sâu đậm cùng nhau vượt sóng gió đó, cuộc tình hoạn
nạn có nhau đó, sự hòa hợp của hai tâm hồn cùng đồng điệu đó, chính là sự đồng
cảm sâu sắc nhất và là chỗ dựa vững chắc nhất trong cuộc đời chúng ta. Tất cả
những điều này, đều là miễn phí hết và là thứ mà có tiền bạc cũng không thể mua
được.
Tình
thân là miễn phí
Mỗi người chúng ta đều trần trụi khi đến với thế gian này và đều
nhận được sự che chở vô bờ bến của cha mẹ, một thứ tình thương không mong báo
đáp in sâu trong máu thịt. Nhưng không có người cha mẹ nào nói với con mình
rằng: “Con cho mẹ tiền mẹ mới thương con”.
Tình
yêu thương này của cha mẹ, sẽ không giảm giá trị vì bạn đã trưởng thành, càng
không mờ nhạt vì họ đã già đi, chỉ cần cha mẹ còn sống ở trên đời này, bạn vẫn
nhận được tình yêu thương này trước sau như một.
Tình bạn là miễn phí
Người âm thầm ở bên cạnh bạn khi bạn cô đơn, người giơ cánh tay
ra đỡ bạn khi bạn ngã, người cho bạn dựa vào vai an ủi bạn khi bạn đau lòng,
người luôn sẵn sàng xuất hiện mỗi khi bạn cần giúp đỡ, thế nhưng người đó có
bao giờ đổi những thứ đã cho đi thành tiền mặt, sau đó kêu bạn trả không?
Mục
tiêu là miễn phí
Bất luận là hoàng tử ăn sung mặc sướng, hay là người lang thang
ăn mặc rách rưới, bạn đều có thể đặt ra mục tiêu riêng cho cuộc đời mình. Mục
tiêu này có thể là vĩ đại, cũng có thể là bình thường, vừa có thể là huy hoàng
và cũng có thể là giản dị, chỉ cần bạn cảm thấy bằng lòng với nó là đủ rồi.
Tín ngưỡng là miễn phí
Mỗi một cơ thể máu thịt đều nên có một tín ngưỡng chính xác và
kiên định để dựa vào. Đó là nơi nương dựa tốt nhất của linh hồn, là ngọn đèn
soi sáng giúp chúng ta vượt qua được mọi khó khăn, trắc trở trên đường đời.
Còn có
gió xuân, thì còn có mưa phùn, còn có ánh trăng trong vắt, thì còn có các vì
sao lấp lánh trên trời…
Vậy nên bạn đừng có than thở với ông Trời nữa, ông Trời không
những rất công bằng mà lại còn rất hào phóng. Từ lâu ngài đã đem mọi thứ quý
giá nhất, ban tặng miễn phí cho mỗi người rồi, chỉ có điều là bạn có nhận ra
hay không mà thôi.
Phụ nữ lỡ mắc phải NGHIỆP ÁC này thì cả đời chìm trong
bể khổ, trăm năm không được đầu thai làm người
Cách đây hơn 2.500 năm, Đức Phật đã đề cập đến vấn đề ngoại tình
và hệ lụy của nó. Người ví, một người vợ ngoại tình được ví như một người vợ
sát nhân. Tương tự, một người chồng ngoại tình cũng giống như một người chồng
sát nhân vậy.
Trong Kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật cho rằng có 7 loại vợ. 1 là vợ
sát nhân, 2 là vợ ăn trộm, 3 là vợ kiêu sa: Đây là ba loại vợ không tốt. Loại
thứ 4, 5, 6 và 7 đó là: vợ như mẹ, em út, bạn bè, người phục vụ là những người
vợ tốt.
Trong 7
loại vợ trên, vợ sát nhân được giải thích như sau. Người vợ có tâm địa ác, có ý
xấu, không có lòng thương, bỏ rơi chồng mình, yêu những người đàn ông khác, một
dâm nữ, chỉ muốn làm phiền lòng người. Đó là loại vợ sát nhân. Như vậy, theo
đó, một người vợ ngoại tình được coi là vợ sát nhân, tức là họ là nguyên nhân
phá hủy gia đình.
Sự tà dâm, ngoại tình chính việc quan hệ với người khác ngoài vợ
ngoài chồng. Đây là một hành vi bất chính, thấp hèn, phải chịu ác nghiệp hết
sức nặng nề. Nếu không phải trả giá trong kiếp này thì đến kiếp sau sẽ phải
gánh chịu hậu quả, chịu quả khổ của ác nghiệp ấy cho đến khi mãn quả của ác
nghiệp ấy mới thoát được khỏi cõi ác giới.
Phụ nữ phạm tội tà dâm ngoại tình, trăm năm không được đầu thai
làm người
Tà dâm tội nặng không thể dung thứ. Chỉ vì một chút lạc thú nhất
thời mà phải chịu quả nghiệp như vậy liệu có đáng? Người xưa rất ý thức được
điều này bởi họ tín tâm vào luật nhân quả của Trời Đất, còn người nay với
thuyết vô thần nhiều lúc đã phạm tội tà dâm ngoại tình, quả là đáng tiếc.
Không
tà dâm là một trong năm giới cấm mà Đức Phật chỉ ra cho hàng Phật tử, cư sĩ tại
gia.
Không tà dâm nghĩa là không chung sống với người không phải là
vợ hay là chồng của mình. Những việc quan hệ nam, nữ không được pháp luật và xã
hội thừa nhận đều được xem là tà dâm.
Một người có thể có mệnh phú quý, nhưng nếu phạm tội tà dâm, có
thể trở nên khốn khổ lao đao suốt cuộc đời. Một người có mệnh được hưởng phúc
và thọ, nhưng nếu phạm tội tà dâm, có thể bị tật nguyền hay chết yểu…
Quả báo với tội tà dâm là cực kỳ nghiêm trọng, nó thậm chí còn
nghiêm trọng hơn với những ai xúi giục người khác. Sự đau khổ trong địa ngục là
ngoài sức mô tả. Một khi vào ngục vô gián, thì sẽ không còn đường ra nữa. Sự
hưởng lạc và phóng túng nơi nhân gian chỉ là rất ngắn ngủi, vì thế chúng ta
không nên làm ngơ với những gì sẽ chờ đợi chúng ta sau khi chết.
Người có thói tà dâm thường hay có ý nghĩ, lời nói và hành vi
xấu. Họ gây ra sự đổ vỡ hạnh phúc gia đình của bản thân và của người khác. Tội
tà dâm tuy mang đến khoái cảm nhất thời nhưng quả báo rất khủng khiếp. Chúng ta
không nên dại dột mà vướng vào.
Ngoài tội tà dâm, Đức Phật cũng chỉ rõ thêm rằng, trong ngàn vạn
tội trên đời, bất hiếu chính là tội nặng nhất. Cha mẹ sinh ra ta, nuôi lớn ta,
ân tình chất cao vời vợi. Trong kinh Phật có nói, có đề ơn tỷ kiếp cũng không
trả hết đấng sinh thành, kẻ bất hiếu với cha mẹ, trời không dung, đất không
tha.
Phú quý thực sự có được từ tấm lòng thiện lương
Nếu như ở phương Tây, hoa thủy tiên gắn liền với tên tuổi của
chàng Narcissus trong Thần thoại Hy Lạp, thì câu chuyện thủy tiên trong văn hóa
Đông phương lại mang một ý nghĩa khác.
Tương truyền, xưa có một phú ông sinh được hai người con trai.
Vị phú ông chăm chỉ ruộng vườn, gia cảnh lại khá giả, nên họ sống rất an nhàn
vui vẻ. Nhưng chẳng bao lâu sau khi phú ông qua đời, hai người con trai bèn
chia tài sản ở riêng.
Người con lớn cậy mình là trưởng, cho rằng em trai ngốc nghếch
khờ khạo, bèn chiếm hết ruộng vườn tiền bạc về mình, chỉ cho em một cái đập
nước hoang. Người em không hiểu duyên cớ nhưng cũng chiều lòng anh, không dám
đưa ra ý kiến phản đối nào.
Nhưng cái đập nước hoang này không cày cấy được, cũng không
trồng hoa màu được, phải làm sao mới kiếm kế sinh nhai? Chẳng còn cách nào,
người em đành phải lay lắt sống qua ngày, chỉ mong có được chút cơm gạo thô và
rễ rau bớt đắng lòng.
Cứ như
thế, đồ đạc của cải trong nhà người em đã cầm cố hết, chẳng còn cách gì sống
tiếp nữa. Đến khi bị đói mấy ngày liền, đói đến mức không thể chịu thêm được
nữa, người em bèn đến nhà anh trai mượn vài đấu gạo.
Người anh có tài sản, sống trong trang viên lớn, mặc lụa là gấm vóc,
ăn sơn hào hải vị, nhưng lại không hề có chút tình huynh đệ. Anh ta không những
không cho mượn, trái lại còn cằn nhằn năm lần bảy lượt đẩy em ra khỏi nhà.
Người em hết cách, đành ngồi bên lề đường khóc nức nở, khóc đến khi nước mắt
tuôn như suối, ướt hết hai tà áo.
Tiếng khóc của anh kinh động đến Ngọc Hoàng Đại Đế trên Thiên
đình, Ngài vội hỏi các vị Thần tiên: “Nơi nào dưới hạ giới có tiếng khóc bi ai
của kẻ nam nhi, rốt cuộc khóc vì điều gì, mau đi tra xét về báo ta!”.
Thần Thổ Địa tiếp Thánh chỉ, liền cưỡi mây lên Thiên đình diện
kiến Ngọc Hoàng.
Nghe câu chuyện về chàng trai nghèo hiền lành chất phác, Ngọc
Hoàng gật đầu mỉm cười khen ngợi rằng: “Thật đúng là người thành thật trung
hậu!”.
Rồi Ngọc Hoàng nói với Thần Thổ Địa: “Đây là thứ hoa chỉ có ở
nơi tiên cảnh, thường sinh trưởng trong nước, nên ta gọi đó là thủy tiên. Khanh
hãy mang hoa này về và trồng trong đập nước của anh ta, nó sẽ mang lại phú quý
tài lộc cho chàng trai khốn khó ấy”.
Như nhớ ra điều gì đó, Ngọc Hoàng lại căn dặn: “Ta có một lời
chú, giao cho khanh đem về đưa cho anh ta trồng. Chỉ có thủy tiên ở đập nước
của anh ta mới ra hoa, còn hễ đem đi trồng nơi khác, thì sẽ chỉ ra hoa trong
một năm đó. Sang năm khác cho dù người ta chăm sóc thế nào đi nữa cũng không
thể ra hoa”.
Thần Thổ Địa lĩnh chỉ của Ngọc Hoàng, nhận hoa thủy tiên, cưỡi
mây về trần gian. Thần biến thành ông già chống gậy, áo quần lam lũ đi qua chỗ
người em, hỏi anh ta sự tình, người em kể lại đầu đuôi cho cụ già nghe.
Nghe xong, Thần Thổ Địa động lòng thương xót, bèn an ủi người em
rằng: “Trời không tuyệt đường người trung hậu. Đây là củ hoa thủy tiên, con hãy
đem về trồng ở đập nước, ngày sau hoa nở sẽ giúp con thoát khỏi cảnh long
đong”. Người em chớp mắt đã không thấy Thần Thổ Địa đâu nữa, bèn hướng lên trời
và xuống đất bái lạy, tỏ lòng cảm tạ.
Sau đó,
người em đem thủy tiên trồng ở đập nước, rất nhanh chóng tốt tươi. Trong khoảnh
khắc hoa đã lan đầy cái đập nước. Năm mới đến, thủy tiên nở đầy hoa ngan ngát
hương thơm, ai thấy cũng ưng ý lắm, ai nấy đều đến mua giống, cuộc sống của
người em do đó mà dư giả thoải mái lên rất nhiều.
Những người mua giống, vì cây chỉ ra hoa được một năm, nên vẫn
phải hàng năm mua giống hoa của người em. Nhờ đó mà người em có được kế sinh
nhai, cơm no áo ấm, dần dần trở nên giàu có.
Còn người anh, sau vài năm tận hưởng hết tài lộc thì bỗng nhiên
nghèo khó, không thể tự xoay sở cuộc sống. Người em tốt bụng, nghĩ tới tình anh
em như chân với tay, đem giống hoa cho người anh. Nhưng người anh trồng thì
không sinh trưởng, còn người em thì giàu có lên từng ngày.
Do đó mọi người coi hoa thủy tiên là loài hoa ‘phú quý đến từ
thiện lương’. Đặc biệt dịp Tết đến xuân về người ta lại chơi hoa, thưởng hoa
thủy tiên, chờ mong hoa nở trong dịp giao thừa để đắc nhiều tài lộc, cả năm cát
tường.
Ghi nhớ không được phạm phải 9 điều CẤM KỴ trong rằm
tháng giêng để tránh tai ương, nghèo khó
Tết nguyên tiêu là một ngày lễ khá quan trọng trong phong tục
của người Việt. Bạn cũng nên lưu ý một số vấn đề cấm kỵ ngày này để tránh tai
ương, nghèo khó.
Nguồn gốc ngày Rằm tháng Giêng
Rằm tháng Giêng (hay còn gọi là Tết Nguyên Tiêu hay còn gọi là
Tết Thượng nguyên) có nguồn gốc từ Trung Quốc. Ngày xưa, Tết nguyên tiêu là dịp
mà nhà vua thiết đãi Trạng Nguyên nên còn được gọi là Tết Trạng Nguyên. Khi du
nhập vào nước ta, Tết Nguyên Tiêu được cải hóa theo Phật Giáo, là Tết cầu bình
an cho cả năm, Tết thường cúng chay.
Vào
ngày này, mọi người thường lên chùa cúng sao giải hạn, ước nguyện điều lành cho
gia đình.
Vẫn cái câu ” Có thờ có thiêng, có kiêng có lành ” nên nếu tránh
được những điều này thì sẽ tốt cho vận khí của bạn và gia đình.
1. Không chải tóc, soi gương nửa đêm rằm tháng Giêng
Nhiều người có thói quen chải tóc, soi gương trước khi đi ngủ,
đặc biệt là các bạn nữ thường hay tẩy trang và bôi kem dưỡng da trước khi ngủ.
Nhưng đây là việc kiêng kị nhất vào ban đêm vì đây là thời điểm giao giữa ngày
vào đêm các cô hồn hay lang thang tìm chỗ nương náu, chải tóc vào đêm khuya,
nếu tóc rụng ra, có nghĩa là phần dương khí theo tóc toát ra nhiều, âm khí mạnh
lên, tạo điều kiện cho cô hồn xâm nhập hoặc quậy phá.
2. Kiêng quan hệ nam – nữ
Theo quan niệm từ xưa, việc quan hệ nam nữ vào những ngày này sẽ
dẫn đếnnhững điều vận hạn đen đủi, không may mắn, thậm chí là đại hạn.
Hiện nay, quan niệm này tuy đã không còn nặng nề như trước nhưng
trên thực tế, không ít cặp vợ chồng vẫn khiêng khem và đại kỵ chuyện ấy trong
những thời khắc nhạy cảm.
3. Cho vay hoặc mượn tiền
Rằm tháng Giêng không được cho người khác mượn tiền, nếu bạn cho
mượn nghĩa là bạn cũng cho đi tài khí của mình còn nếu bạn mượn tiền thì cả năm
đó bạn sẽ sống trong cảnh nợ nần đấy.
4. Mặc đồ trắng – đen
Ngày
rằm tháng giêng theo quan niệm dân gian nên tránh mặc đồ trắng, đen vì hai màu
này liên quan đến người đã mất. Người mặc hai màu đen trắng vào ngày này làm
việc gì cũng khó thành.
5. Không được để thùng gạo trong nhà lộ đáy
Bởi theo quan niệm nếu ngày này, nhà bạn để thùng gạo trống rỗng
chẳng khác gì nhà bạn sẽ đói kém cả năm sau đó.
6. Nói tục, chửi bậy
Kiêng nói bậy, chửi tục, nếu không sẽ gặp chuyện thị phi. Chính
vì thế trong ngày này cần cẩn thận lời ăn tiếng nói, tránh bôi nhọ, xúc phạm
người khác, phải giữ bình tĩnh đừng để bản thân vướng vào những chuyện thị phi
không đáng có.
7. Kiêng làm vỡ, hỏng đồ đạc
Bởi vì điều đó đồng nghĩa với việc năm tới tài phúc hao tổn.
8. Kiêng sinh con gái vào ngày rằm tháng Giêng
Người xưa thường có câu “Trai mồng Một, gái ngày Rằm,” ám chỉ
những bé trai sinh vào ngày mồng Một và những bé gái sinh vào ngày Rằm thường
rất khó nuôi. Bởi vào ngày Rằm, năng lượng âm của đất trời sẽ lên đến cực đại.
Nếu sinh con gái vào đúng ngày này sẽ cứng đầu, khó dạy dỗ. Chính vì thế các bà
mẹ cần tránh sinh con trong ngày này.
9. Kiêng câu cá ngày trăng tròn
Theo quan niệm tâm linh của người Việt, hành động câu cá vào
ngày rằm sẽ mang lại cho người đó vận hạn đen đủi. Chính vì điều này, vào ngày
rằm người ta thường không đi câu cá.
– Thông tin bài viết mang tính chất tham khảo, chiêm nghiệm –
Phóng sinh mang đến phúc hay họa là do lòng người
quyết định
Dẫu chỉ là phóng sinh một chú chim nhỏ nhưng lòng người mang tâm
trắc ẩn, thực sự xót thương khi sinh mệnh ấy gặp nạn và hạnh phúc được thấy
chúng bình yên trở về với môi trường sống của mình, đó mới là điều đáng trân
quý.
Còn muốn phóng sinh chỉ để cầu xin may mắn và tài lộc cho bản
thân, gia đình thì xuất phát điểm ấy chẳng phải là điều vị tư hay sao? Trên
hình thức cũng là phóng sinh nhưng khi thả những chú chim bay loạng choạng hay
những chú cá mệt đứ đừ đang ngất ngư trong dòng nước, người ta lại nghĩ đến
mình sẽ được những gì. Liệu có vị Thần Phật nào ban phúc lộc cho những tâm hồn
ích kỷ như vậy?
Vậy nên nhiều người khi mua chim, cá và các động vật nhỏ khác
về, điều đầu tiên họ nghĩ tới không phải là tìm con sông nào, cánh đồng nào
trong lành để những sinh mệnh ấy sớm được tự do sống cuộc sống của mình. Mà
thường đợi khi nén hương đã tàn, khi câu chú đã đọc xong, khi chúng khắc khoải,
mòn mỏi, thoi thóp chờ đợi trong những chiếc túi nilon chật hẹp, hay chiếc chậu
con con chẳng thể xoay mình thì mới yên tâm thả chúng trở về tự nhiên.
Cũng có người chẳng hề bận tâm xem liệu chúng còn có thể sống
sót khi trở về hay không, nên tiện đâu thả đấy, mà chẳng buồn bận tâm xem dòng
sông ấy, con lạch ấy có bị ô nhiễm hay không. Cũng có những người vô thần vô
thánh đang tâm trục lợi từ những sinh mệnh bé nhỏ đó.
Khi những chú cá còn đang loạng choạng quẫy mình trong dòng nước
đầu nguồn thì đã có những người giăng lưới trực sẵn nơi cuối nguồn. Hay những
chú chim bị người ta cố tình cắt cụt đôi cánh để dễ bề vợt lại mang bán khi còn
đang ngơ ngác, chao đảo giữa không trung. Làm vậy thì người bán kẻ mua đều vô
tình hay cố ý đi ngược lại với những lời răn dạy của nhà Phật và tự chiêu mời
thêm khổ nạn, sóng gió cho cuộc đời mình mà thôi.
Người thiện lương sẽ luôn được Thần Phật trợ giúp
Phía Đông thành Thiệu Hưng có một quả núi Xạ, phía Nam núi Xạ có
một cái hồ, ở hồ có một quả núi tên là Bạch Hạc Sơn. Truyền thuyết kể rằng năm
xưa có một vị tiên nhân đánh rơi mất cây tên nên phái bạch hạc đi tìm…
Bạch hạc bới lộn hết cả vùng đất đó lên nhưng không tìm thấy, số
đất đá mà bạch hạc bới lên tạo thành một ngọn núi nhỏ, ngọn núi nhỏ này chính
là nguồn gốc của Bạch Hạc Sơn.
Có một câu chuyện liên quan đến ngọn Bạch Hạc Sơn, đã được lưu
truyền trong dân gian từ rất xa xưa. Kể rằng…
Thời Đông Hán có một vị thái phủ tên là Trịnh Hoằng, hồi nhỏ gia
cảnh túng thiếu, mỗi ngày đều phải lên núi đốn củi, dựa vào nghề kiếm củi để
sinh sống qua ngày.
Một hôm, trong lúc vào rừng đốn củi Trịnh Hoằng nhặt được một
cây tên. Đầu mũi tên rất đẹp, phản ánh ngũ quang thập sắc, nó hoàn toàn khác
với những mũi tên bình thường.
Trịnh Hoằng nghĩ trong bụng rằng người làm mất chắc rất sốt ruột
tìm kiếm nên ngồi bên đường đợi chủ nhân nó quay lại tìm.
Một lúc sau, thấy một lão ông tóc trắng như cước vừa đi vừa nhìn
trước ngó sau như đang tìm kiếm thứ gì đó, Trịnh Hoằng cất tiếng hỏi:
“Lão bá, lão đang tìm thứ gì vậy?”.
“Ồ, ta đang tìm một mũi tên”, lão bá trả lời.
“Thưa, có phải cái này không?”, Trịnh Hoằng vừa đáp vừa đưa mũi
tên cho lão ông xem.
Lão ông
cầm lấy mũi tên xem rồi ngẩn người ở đó một lúc, sau khi định thần lại rồi vui
mừng nói: “Đúng, đúng, đúng là nó, thật tốt quá, ta đã tìm nó suốt mấy năm
trời, thật không dễ gì mà tìm được. Tiểu huynh đệ, cậu nói đi, vàng bạc châu
báu, lụa là gấm vóc, cậu muốn gì ta cũng cho cậu”.
Trịnh Hoằng nghe xong thành thật đáp: “Vàng bạc châu báu, lụa là
gấm vóc cháu đều không cần. Nếu như lão bá muốn cảm tạ cháu, cháu chỉ xin lão
bá một loại gió”.
Lão ông cảm thấy kỳ quặc nên nói: “Cái gì? Cậu muốn gió?”.
Trịnh Hoằng: “Đúng vậy, cháu muốn gió, những người đi kiếm củi
như chúng cháu, sáng sớm tinh mơ mỗi ngày đều phải vượt qua khe suối Nha Khê đó
để vào rừng kiếm củi, tối lại về. Nhưng mà gió ở Nha Khê lại luôn thổi ngược
vào mặt, đi đi về về đều bị nó thổi vào mặt, nếu không cẩn thận thì sẽ bị gió
thổi ngã xuống. Lão bá, ông hãy làm một việc tốt giúp chúng cháu, khiến gió Nha
Khê sáng thổi về phía Nam, tối thổi về phía Bắc, như vậy thì người đi qua đó sẽ
luôn gặp được gió thuận”.
Vốn dĩ cụ ông đó chính là một tiên nhân, nghe yêu cầu của Trịnh
Hoằng, cảm thấy cậu là một đứa trẻ có lòng tốt, tuy tuổi còn nhỏ nhưng đã biết
nghĩ cho mọi người, trong lòng rất cảm động nên nhận lời thỉnh cầu của cậu.
Từ đó về sau, gió ở Nha Khê luôn thổi về phía nam buổi sáng,
buổi chiều về phía Bắc, giúp những người kiếm củi qua đó rất thuận tiện. Nhiều
năm qua đi, mọi người gọi đó là “Gió Trịnh Hoằng” cũng có người gọi là “Tiều
Phòng” tức gió người kiếm củi.
RẰM THÁNG GIÊNG: Thắp hương sao cho đúng để ĐÓN TÀI
LỘC vào nhà?
Cúng RẰM THÁNG GIÊNG: Thắp hương sao cho đúng để ĐÓN TÀI LỘC vào
nhà điều gia đình nào cũng cần nằm lòng.
Vào năm Mậu Tuất 2018, lễ Rằm tháng Giêng sẽ rơi vào thứ 5 ngày
1.3.2018 và thứ 6 ngày 2.3.2018. Ngày chính rằm (ngày 15 âm lịch) là ngày Quý
Tỵ, tháng Giáp Dần.
Theo truyền thống Phật giáo, ngày rằm tháng Giêng là lúc Phật
giáng lâm nên đây là ngày trọng đại và vô cùng đặc sắc, mang ý nghĩa rất lớn.
Đây là thời điểm, đông đảo người dân lên chùa cúng dâng sao giải hạn với mong
muốn giải trừ tai ách, cầu nguyện an lành.
Từ lâu, quan niệm dân gian của người Việt đã cho rằng, “cúng cả
năm không bằng Rằm tháng Giêng”. Tinh thần đó cho thấy tầm quan trọng của ngày
Tết Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng) trong đời sống tâm linh của người Việt. Chính
vì vậy mà vào ngày lễ này, các gia đình thường rất cẩn thận trong việc sắm lễ
cúng.
Thắp
hương sao cho đúng?
Tùy không gian thờ cúng, nếu nhà chật, các chuyên gia phong thủy
khuyên nên thắp 3 nén cho bát hương thờ Phật, những bát hương còn lại thắp 1
nén để khói hương không gây ngột ngạt và phòng tránh hỏa hoạn.
Ngoài ra vào ngày này, các gia đình có thể tiến hành khởi công
mọi việc đều tốt. Tốt nhất là dựng cột, cất lầu, làm dàn gác, cưới gả, trổ cửa
dựng cửa, tháo nước hay các vụ thủy lợi, cắt áo.
Cách cúng rằm tháng giêng chuẩn nhất sẽ giúp bạn có thể rước
được tài lộc về cho gia đình trong dịp năm mới, trong đó, ngoài thời gian, địa
điểm cách cúng chuẩn sẽ bao gồm toàn bộ những công việc liên quan đến lễ cúng
như chuẩn bị mâm cúng, chuẩn bị văn khấn,…
Ngoài bài cúng rằm tháng giêng, thì các mâm cỗ cũng cần chuẩn bị
kỹ càng, như cúng gia tiên sẽ có sự khác biệt so với mâm cỗ cúng Phật và thần
linh, bạn cần phải phân biệt được để có được sự chuẩn bị đúng theo tâm linh văn
hóa chung của người Việt.
– Thông tin bài viết mang tính chất tham khảo, chiêm nghiệm –
Đây là lý do vì sao dù có đi Chùa lạy Phật cũng bị hao
tổn phúc đức, cuộc sống bấp bênh
Nói một cách đơn giản, “nhân quả báo ứng” chính là làm thiện
được quả báo thiện, còn làm các điều ác bị quả báo ác. “Luật nhân quả” chính là
phương thức, qui tắc cùng định luật cố định của nhân quả báo ứng.
Còn nói rõ hơn, những hành vi thuộc ác chủ yếu là “thập ác và
ngũ nghịch”. Mỗi hành vi xấu ác, đều phải chịu ác báo tương xứng với hành vi
đó. Vả lại, căn cứ vào những hành vi xấu ác nặng hay nhẹ mà có quả báo khác
nhau. Làm mười điều ác, sau khi chết chắc chắn phải thọ khổ trong địa ngục, còn
tạo ác nhẹ hơn, sau khi chết chuyển sinh thọ khổ trong loài ngạ quỉ, nếu tạo ác
nhẹ hơn nữa, thọ khổ trong loài súc sinh. Sau khi thọ hết tất cả thống khổ
trong các đường này rồi, sẽ được chuyển sinh trở lại làm người, và tiếp tục bị
thọ các quả báo.
Đời người, ai cũng khó tránh khỏi việc va chạm và làm tổn thương
người này người kia. Có đôi khi việc làm tổn thương người khác là một việc vô ý
nhưng cũng có khi là vì tâm tính không tốt mà cố ý làm hại người ta.
Sát sinh
Sát sinh đó là hành vi khiến con người ta tổn hại phúc đức của bản thân mình nhiều nhất. Mỗi khi chúng ta ta tay giết hại một sinh mệnh thì phúc phận tổn hại vô cùng to lớn, ngay cả khi chúng ta giết hại một con kiến cũng vậy. Vì thế khi giáo dục con cái, chúng ta tuyệt đối không được cho con cái giết hại côn trùng làm thú vui tiêu khiển, có như vậy thì phúc phận của con cái mới không bị tổn hại, thọ mệnh sau này cũng được kéo dài.
Sát sinh đó là hành vi khiến con người ta tổn hại phúc đức của bản thân mình nhiều nhất. Mỗi khi chúng ta ta tay giết hại một sinh mệnh thì phúc phận tổn hại vô cùng to lớn, ngay cả khi chúng ta giết hại một con kiến cũng vậy. Vì thế khi giáo dục con cái, chúng ta tuyệt đối không được cho con cái giết hại côn trùng làm thú vui tiêu khiển, có như vậy thì phúc phận của con cái mới không bị tổn hại, thọ mệnh sau này cũng được kéo dài.
Xung đột với cha mẹ, người bề trên
Chống đối, mâu thuẫn với cha mẹ là việc đứng đầu trong những
việc làm “tổn phúc bại lộc.” Vô luận là cầu cái gì cũng đều không đạt được,
ngàn vạn lần cầu cũng uổng công bởi vì tích phúc không có mà tổn phúc lại
nhanh. Sự việc, nhân duyên, làm việc đều không thuận…
Nếu như công việc không thuận lợi, cảm tình thống khổ lập tức
hiếu thuận với cha mẹ, cha mẹ vui mừng thì hết thảy thiên nhân, quỷ thần đều sẽ
đến bảo hộ. Người không chống đối, không có mâu thuẫn với cha mẹ thì công việc
sẽ thuận lợi, có nhân duyên tốt đẹp. Nếu như từ nhỏ đã không có mâu thuẫn gì
với cha mẹ thì cho dù xuất thân trong gia đình nghèo khó sau này lớn nên cũng
có thể trờ thành người có sự nghiệp.
Người dùng tiền tài nuôi dưỡng cha mẹ, tương lai tất sẽ giàu có,
khá giả. Hiếu thuận nhưng không dùng vật phẩm tiền tài nuôi dưỡng cha mẹ thì
cho dù làm đại quan cũng sẽ thiếu hụt tài phú.Nói xấu xuyên tạc bậc thánh hiền,
đại đức, một câu làm tổn hại 100 thiện, làm hỏng hết huyết mạch phúc báo của
gia đình.
Tức giận
Tức giận nó cũng giống như chiếc lò hoả thiêu, thiêu rụi mọi
phúc phận của chúng ta. Đối với một người bình thường mỗi một lần tức giận
chính là một lần hoả thiêu một phần phúc đức của mình. Nhất là khi chúng ta tức
giận, đối đãi không phải đạo với bậc cha mẹ bề trên thì phúc đức tiêu tán càng
nhiều. Ngoài sát sinh, thì đây chính việc thứ hai khiến cho con người bị tổn
đức nhiều nhất.
Nói xấu người khác
Nói xấu người khác không những tổn hại phúc đức bản thân mà còn
cấp phần công đức cho người khác, sẽ tự chiêu mời những điều rắc rối tới cho
bản thân bởi những thị phi do mình gây ra.
Thiên địa tương sinh tương khắc, cũng như trời đất tạo sinh ra
cây độc thì cũng tạo ra cây giải độc, nhân sinh có người thiện thì cũng có
người ác, Mặt Trời cũng không chỉ chiếu rọi cho người tốt mà còn chiếu rọi cho
cả người xấu, biển lớn không chỉ dung nạp nước trong sạch, mà còn có cả nước ô
nhiễm độc hại.
Chúng ta cũng vậy cuộc sống cần phải có sự bao dung, chúng ta
không thể chỉ biết yêu cầu người khác đối xử tốt với mình, chỉ yêu thương quan
tâm những người mà mình thích, mà còn phải biết khoan dung với những người vô
tình làm tổn thương tới chúng ta.
Người xưa có câu rằng: ‘Hậu đức tải vật’ cũng chính là ý đó,
người có sự bao dung độ lượng lớn sẽ dung hoà được mọi thứ, để cuộc sống trở
lên tốt đẹp hơn, ví như cho một thìa muối vào cốc nước thì thấy nước mặn chát,
nhưng cho xuống hồ nước rộng thì chẳng hề gì, đó chẳng phải vì hồ nước có tấm
lòng khoan dung, rộng lớn đó sao.
Dâng sao giải hạn đầu năm: Vung tiền cúng lễ có tránh
được vận hạn?
Nguồn gốc của dâng sao giải hạn – Thiên văn học cổ Trung Hoa
Dâng sao giải hạn là một trong những ứng dụng vào đời sống của thiên
văn học cổ Trung Hoa. Người xưa cho rằng số mệnh của con người có thể xem và
biết trước được bằng cách lập lá số theo thời gian sinh và sắp xếp lá số theo
quy luật của các vì sao, từ đó đoán trước cát hung và tìm cách để đón lành
tránh dữ.
Vì thế mà khoa thiên văn học Trung Hoa có thể nói là cha đẻ của
mọi khoa chiêm tinh, đẩu số sau này. Hơn thế nữa, các nhà thuật số còn gây được
trong dân gian một phong trào thờ sao cúng sao, mà ta thường gọi là «Dâng sao
giải hạn». Xin liệt kê ra một số môn phổ biến nhất như:
1. Khoa Tử Vi Đẩu Số
Khoa này do Đạo sĩ Trần Đoàn thời Tống tạo ra, nó thường dùng
khoảng 108 vì sao lớn nhỏ để đoán định về số kiếp vận hạn con người. Đây là
khoa duy nhất mà chúng tôi đánh giá cao vì đã áp dụng những triết lý tu thân
của Đạo gia vào phương pháp suy đoán vận mệnh.
Nó đã ghi dấu trong lịch sử với những huyền thoại đoán mệnh còn
lưu truyền từ thời Tống và thời Trần (Việt Nam). Nhưng trải qua nhiều năm, môn
này đã thất truyền và hiện nay không còn ai có thể sử dụng đúng giá trị của nó,
gồm tất cả các nhà tử vi nổi tiếng khắp thế giới.
2. Diễn
Cầm Tam Thế
Diễn Cầm Tam Thế dùng Nhị thập bát tú để đoán định về số mạng
con người theo nguyên tắc “Niên vi cốt, Nguyệt vi bì” (năm sinh thuộc sao nào
làm cốt; tháng sinh thuộc sao nào làm da; cốt da vừa nhau thời tốt; da cốt
không vừa nhau thời xấu).
Nhị thập bát tú cao siêu ở trên trời nay biến thành những con
thú đủ loại nơi trần thế. Ví dụ: Giác là con sâu, Cang là con rồng, Đê là con
nhím, Phòng là con thỏ, Tâm là con chồn, Vỹ là con cọp, Cơ là con báo, v.v.
3. Khoa Bát Tự
Khoa Bát Tự cũng là một khoa đẩu số chỉ dùng Can Chi của năm,
tháng, ngày, giờ sinh và 48 vì sao để đoán định mệnh con người. Khoa này do
Trần Tử Bình lập vào đời Tống, và giản dị hơn tử vi.
Khoa này nếu dùng đúng, kết hợp với phong thủy thì chính là bộ
môn đã từng phục vụ cho giới vua chúa các triều đại. Tuy nhiên cũng như tử vi,
khoa này đã thất truyền hoàn toàn. Những điều còn lưu lại đều không đáng nhắc
đến.
4. Khoa Lục Nhâm
Khoa này chỉ dùng khoảng 30 sao để đoán định may rủi của từng
ngày từng giờ. Gồm có: Thập nhị tướng (Chu Tước,Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ,
Thái Âm (Mặt trăng), Thập nhị thần (Thái Ất…)
5. Khoa Nhật Nguyệt Tinh
Khoa này chỉ dựa vào Mặt Trời (Thái Dương), Mặt Trăng (Thái Âm)
và Ngũ Tinh là:
– Kim Tinh (Thái Bạch)
– Mộc Tinh (Mộc Đức)
– Thủy Tinh (Thủy Diệu)
– Hỏa Tinh (Vân Hán)
– Thổ Tinh (Thổ Tú)
– Mộc Tinh (Mộc Đức)
– Thủy Tinh (Thủy Diệu)
– Hỏa Tinh (Vân Hán)
– Thổ Tinh (Thổ Tú)
Cộng với La Hầu (Rahou) và Kế Đô (Ketou) để đoán may rủi mỗi
năm. Họ còn bày ra cách cúng sao để giải hạn.
Tất cả những khoa đẩu số, lý số nói trên tuy đều dựa vào ảnh
hưởng của các vì sao để đoán định họa phúc con người, nhưng hoàn toàn xa lạ với
các ứng dụng thực tế của khoa thiên văn học Trung Hoa.
Thiên văn hay chiêm tinh là quan sát các vì sao trên trời để suy
ra họa phúc nơi trần thế, trên thì có thể giúp vua định ra chính sách cai trị
quốc gia, dưới thì giúp quan lại và nhân dân biết mùa màng mà canh tác, biết
địa thế phong thủy mà xây dựng cơ nghiệp, hoàn toàn không phải để cho thường
nhân dùng để chiêu tài, cầu may và tránh rủi.
Người
xưa có dâng sao giải hạn hay không?
Câu trả lời là “có”. Mặc dù chúng tôi không công nhận hiệu quả
thực tế của việc dâng sao giải hạn, nhưng quả thật trong lịch sử cũng đã từng
có chuyện dâng sao giải hạn được ghi lại như sau:
Người dâng sao nổi tiếng nhất chính là Gia Cát Lượng, quân sư và
nhà quân sự thiên tài thời Tam Quốc, được giới thuật số suy tôn là ông Tổ của
ngành đoán mệnh và chiêm tinh đẩu số. Cùng với bộ tiểu thuyếtTam Quốc Diễn
Nghĩa mà câu chuyện cúng sao của ông đã đi vào huyền thoại :
“Đêm hôm ấy, Khổng Minh gượng bệnh ra trướng, ngẩng xem thiên
văn. Xem xong, Khổng Minh kinh hãi lắm, vào trướng bảo Khương Duy rằng: “Ta
nguy đến nơi mất rồi!”
Duy nói: “Sao thừa tướng lại dạy thế?”
Khổng Minh nói: “Ta thấy trong ba ngôi sao Tam thai, ngôi khách
tinh sáng lắm mà ngôi chủ tinh thì u ám, các sao tướng phụ bóng tối lờ mờ. Xem
tượng trời như thế đủ biết mệnh ta”.
Duy nói: “Tượng trên trời đã thế, sao thừa tướng không dùng phép
dâng sao giải hạn mà kéo lại được không?”.
Khổng Minh nói: “Ta vốn biết phép ấy, nhưng chưa biết lòng trời
làm sao. Ngươi hãy dẫn bốn mươi chín tên giáp sĩ, cầm cờ thâm, mặc áo thâm,
đứng vòng quanh ngoài trường, ta ở trong cầu đảo sao Bắc Đẩu. Nếu như trong bảy
ngày, ngọn đèn chủ không tắt, thì ta sống lâu thêm được một kỷ nữa. Nếu đèn tắt,
ta không thọ được. Phàm những người tạp nhạp, không được cho vào. Những đồ gì
ta cần dùng đến, cứ sai hai đứa tiểu đồng trang biện là đủ”.
Lễ dâng sao trong sử sách:
Ngày xưa các quan trông coi thiên văn của Hoàng gia chính là
những người đề xuất và tổ chức các lễ dâng sao khi quan sát thấy một số thiên
tượng đặc biệt xuất hiện nhằm mục đích để xin Thiên Thượng bảo hộ cho hoàng tộc
và quốc gia tránh khỏi tai ương.
Tấn thư – Thiên Văn chí chép: “Đời Minh Đế, năm Thái Hòa nguyên
niên (323), quan thái sử lệnh là Hứa Chí tâu rằng: “Sắp có nhật thực, xin được
cùng với quan thái úy đi làm lễ dâng sao”.
Như vậy dâng sao giải hạn thực chất là một nghi lễ có thật trong
lịch sử, tuy nhiên mục đích của nó và người thực hiện đều rất cao cả vì dân vì
nước chứ không phải biến tướng như hiện nay khi mà nhà nhà người người đều mong
chờ cúng sao để tiêu tai giải hạn cầu may cho bản thân mình.
Nói
chung thì việc dâng sao giải hạn đã có nguồn gốc sâu xa từ thời cổ thì chắc
chắn nó phải có một công dụng hiệu quả gì đó nên người xưa mới coi trọng và ghi
lại trong sách vở. Tuy nhiên thời gian quá lâu dài có thể hủy hoại những gì tốt
đẹp cũng như làm biến dạng những điều thiêng liêng thành những thứ mê tín hại
người.
Việc dâng sao giải hạn cũng chính là nạn nhân của thời gian và
sự tam sao thất bản cùng lòng tham của thế nhân đã biến một học vấn siêu phàm
trở nên quá tầm thường và dung tục. Theo chúng tôi thì việc dâng sao giải hạn
là có thật nhưng nó không được dùng phổ biến ở nhân gian và hiện nay đang được
dùng sai trên quy mô lớn bởi các lý do sau:
Ai có thể làm dâng sao giải hạn?
Thực chất việc dâng sao giải hạn chép trongTam Quốc Diễn Nghĩa
là có thật. Nó chính là một bí thuật của Đạo gia (chứ không phải của Phật gia)
và chỉ có thể được thực thi bởi những người tu luyện chân chính trong một số
trường hợp đặc định.
Như ví dụ trên thì Gia Cát Lượng mong muốn kéo dài tuổi thọ để
tiếp tục phò vua giúp nước và không phải lúc nào cũng thành công vì Thiên ý hầu
như không thể thay đổi.
Gia Cát Lượng hay các nhà cầm binh danh tiếng ngày xưa như Tôn
Tẫn, Quỷ Cốc Tử, Trần Hưng Đạo đều là người tu Đạo hay ít nhất cũng là đệ tử
ngoại môn của Đạo gia chứ không phải là một người thường.
Ngay cả các quan trong Khâm Thiên Giám mà có đề xuất Hoàng đế
làm lễ dâng sao thì cũng phải là những người chuyên nghiệp trong nghiên cứu về
lý số và thiên văn hàng đầu quốc gia.
Vậy việc hiện nay người dân thường kéo đến đình hay chùa mong
muốn dâng sao giải hạn là việc đã sai ngay từ đầu. Chùa đình không thể làm dâng
sao giải hạn, họ tổ chức việc đó mục đích chính là kiếm tiền mà thôi.
Và dĩ nhiên các đạo sĩ chân chính như Gia Cát Lượng vốn là người
tu Đạo sẽ không bao giờ xuất hiện nơi người thường để thu tiền mà làm lễ cho
thường dân được.
Nên nếu bạn không tìm được bậc đạo sĩ chính tông thì tốt nhất
không nên dâng sao vì nó sẽ không có tác dụng gì hết. Đây chỉ là cơ hội làm
giàu cho thầy cúng, người buôn hàng mã và viết sớ mà thôi.
Dâng
sao là gì?
Người xưa thờ Trời nên việc xem thiên văn thiên tượng mà định ra
chính sách quốc gia là quan trọng nhất. Ngoài ra còn có thể dùng ứng dụng của
thiên văn học vào việc làm lịch, định ra lịch nông nghiệp, tiết khí để người
dân theo đó mà cày cấy nuôi trồng.
Triều đình xưa có hẳn cơ quan chuyên trách thiên văn và lịch số
(Khâm Thiên Giám) và các chức quan này đều có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến
Hoàng đế trong các quyết sách.
Các vua chúa Trung Hoa và Việt Nam xưa còn dùng bầu trời như là
một đài quan sát để kiểm soát, để theo dõi tình hình các miền trong nước và
phiên trấn. Vì thế mới phân trời đất thành châu, thành dã.
Mỗi vùng trời lại ứng với vùng đất, rồi nhân các thiên tượng xảy
ra ở vùng trời nào thì biết được các biến cố sẽ xảy ra ở vùng đất nào. Dâng sao
chính là nghi lễ mà vua chúa dùng khi thấy các thiên tai dị tượng xảy ra nhằm
cầu mong cho quốc gia an định và không xảy ra loạn lạc chiến tranh.
Giải hạn thực chất là gì?
Vận hạn chính là tiến trình lên xuống biến đổi của vạn vật và
hay được dùng để chỉ trạng thái của một quốc gia hay của một giai đoạn nào đó
của đời người. Vận hạn hanh thông là tốt và ai cũng mong cầu, trái lại ai cũng
sợ vận hạn xấu sẽ ảnh hưởng đến thân thể sức khỏe, của cải và có khi tiêu tan
cả sự nghiệp.
Trung Dung viết: «Quốc gia tương hưng tất hữu trinh tường; quốc
gia tương vong tất hữu yêu nghiệt» (Khi nước sắp hưng thịnh sẽ thấy những điềm
lành; khi nước sắp nguy vong, sẽ thấy những điềm gở).
Ví dụ như đời Hán: «Những năm Nguyên Quang (134-129) và Nguyên
Thú (122-117) đời Hán Vũ Đế sao chổi cờ Si Vưu lại xuất hiện hai lần, dài choán
nửa vòm trời. Sau đó quân ở kinh sư xuất chinh 4 lần, giết Hung Nô trong vòng
mấy chục năm, chinh phạt rợ Hồ còn khốc liệt hơn nữa”.
Và nước Việt ta cùng với Cao Ly trước khi bị mất nước: «Khi nước
Việt mất (111 TCN) sao Huỳnh Hoặc (Hỏa Tinh) đóng ở chòm sao Đẩu (sao Nam Đẩu
là phân dã của Ngô-Việt). Khi Cao Ly bị diệt (108 TCN) có sao chổi hiện ra ở
vùng Hà Giới (ở vào các chòm sao Nam Hà và Bắc Hà)”.
Nguồn gốc của việc giải hạn khi cúng sao thời cổ thực chất chính
là dùng nghi lễ cúng tế kết hợp với việc tu dưỡng thay đổi nội tâm của người
cúng (nhà vua) mà cảm động đến lòng Trời để dừng việc trách phạt xuống trần
gian.
Ngoài ra để thực hiện nghi lễ có hiệu quả thì yêu cầu ngày xưa
rất nghiêm khắc. Nhà vua chẳng những phải kiền tịnh thân thể trong một thời
gian dài thanh tâm quả dục (tĩnh tâm và kiêng không gần gũi nữ sắc) sau đó còn
phải thành tâm xuống chiếu tự trách mình, nhận lỗi với thiên hạ và chủ động
thay đổi chính sách không phù hợp.
Vì vận hạn xấu tốt là do Trời định căn cứ theo tội nghiệp hay
phước đức của nhà vua (và cả quốc gia) mà thi hành, nên chỉ có thể giải hạn khi
nhà vua thật tâm thay đổi, dùng lòng thành mà cảm động lòng trời, đạt đến Thiên
Nhân giao cảm thì mới có công hiệu.
Cho nên, vấn đề giải hạn hoàn toàn nằm ở hành động tích cực của
bản thân trong cuộc sống và cái tâm thái cương quyết phục Thiện, sửa chữa lỗi
lầm của bản thân chứ không liên quan đến cái tờ sớ văn và những lễ vật cùng các
lời cầu khấn.
Vậy
ngày nay có cần thiết phải dâng sao giải hạn hàng năm?
Hãy nhìn xem các ví dụ dưới đây để xem quan điểm của một vị minh
quân Trung Hoa thời xưa về việc cúng sao giải hạn.
Tấn thư – Thiên Văn Chí chép:
“Đời Minh Đế, năm Thái Hòa nguyên niên (323), quan thái sử lệnh
là Hứa Chí tâu rằng: «Sắp có nhật thực», xin được cùng với quan thái úy đi làm
lễ nhương sao.
Vua phán: «Ta nghe rằng nếu chính trị của loài người mà không
hẳn hoi, thời Trời lấy những điềm tai dị mà đe dọa để khuyến cáo. Khuyến cáo
cốt để cho họ sửa mình. Cho nên nhật nguyệt che khuất lẫn nhau để tỏ rõ rằng
phép cai trị có điều chẳng phải.
«Trẫm từ khi tức vị đến nay không làm rạng sáng được thánh đức
của các bậc tiên đế, và cách thi nhân giáo hóa có điều không hợp với Hoàng Thần
(Hoàng Thiên), vì thế nên Trời cao muốn thức tỉnh để trẫm sửa đổi lại nền hành
chánh, tu tỉnh lại hạnh kiểm ngõ hầu báo đáp thần minh.
«Trời đối với người y như cha đối với con. Chưa có cha nào muốn
khiển trách con, mà con có thể làm bữa cơm thịnh soạn dâng lên, xin tha lỗi
được.
«Nay hình hạc bề ngoài sai quan thượng công và quan thái sử lệnh
cùng đi làm lễ nhương sao, thì lẽ ấy chưa từng nghe thấy vậy.
«Quần công, khanh sĩ, đại phu phải cố gắng làm chu toàn phận vụ
để bồi bổ những chỗ trẫm còn khuy khuyết. Bèn phong thưởng tất cả».
Xuân Thu chép:
«Mỗi khi có nhật thực vua thường ăn bớt bát để tỏ lòng hối hận,
lại sai vua chư hầu dâng lễ vật ở đền xã để tỏ lòng tôn kính thần minh. Vua chư
hầu đánh trống ở triều đình mình như muốn nhắc dân phải hết lòng phụng sự quốc
quân».
Qua ví dụ trên ta thấy rằng cổ nhân thực ra không cổ hủ và lạc
hậu như chúng ta hay cố tình gán ghép. Họ cho rằng việc quan trọng nhất mà một
người chân chính cần làm thực ra không phải dâng sao giải hạn mà phải lo hoàn
tất những nghĩa vụ và nhiệm vụ của bản thân mình một cách hoàn thiện nhất thì
mới không lo trời Phật trách phạt.
Điều ấy hoàn toàn hợp lý, minh bạch và thực tế, trong khi đó
chúng ta, những con người của thế kỷ 21 tự hào về khoa học kỹ thuật mà lại mê
muội mong rằng những mâm cỗ cúng, những tờ sớ viết vội vã và những tâm mong cầu
lại có thể giúp ta tai qua nạn khỏi, vậy ai dám nói mình sáng suốt hơn người
xưa?
Tinh tú
hay Trời Phật, Thần Linh, vốn là những bậc Giác Ngộ thanh tịnh nhất, thù thắng
nhất. Bản thân họ đã trải qua tu hành bao nhiêu kiếp để vứt bỏ những tâm xấu xa
mong cầu của người thường mới có thể đắc Đạo.
Họ hoàn toàn không còn quan tâm đến những mong cầu của con người
mà chỉ phù hộ cho những ai là người tốt với tâm trong sáng nhất mà họ biết
được. Do đó khi chúng ta mang những tâm mong cầu bình an, tài lộc mà dâng cúng
sao lên thì khác nào dâng những thứ rác rưởi lên trước mặt Thần linh?
Vậy thì làm thế nào mà lại có thể giải hạn được, tôi nghĩ là
không thể được mà còn đem lại tội nghiệp vô tận cho người dâng sao.
Lời kết:
Từ nghìn năm qua, một trong những chủ đề huyền bí thú vị nhất
chính là bí ẩn về sinh mệnh con người, về số mệnh và những lý giải về quan hệ
giữa con người và vạn vật, vũ trụ xung quanh.
Chúng ta đang ở đâu trong vũ trụ, chúng ta có số mệnh hay không,
mệnh số của ta do ai quyết định và làm thế nào để nghênh lành tránh dữ?
Để trả lời cho những vấn đề trên, cổ nhân Đông phương đã có tri
thức đáng kinh ngạc về vạn vật, về vũ trụ lưu truyền cho đến ngày hôm nay.
Trong đó kho tri thức vĩ đại nhất chính là thiên văn học, mà di sản xuất sắc
nhất của nó còn đến hôm nay chính là thiên văn học cổ Trung Hoa, cùng thiên văn
học cổ Ấn Độ vốn phổ biến trên khắp châu Đông Á, Bắc Á và Đông Nam Á.
Đây cũng là nguồn gốc chân thực của dâng sao giải hạn, một trong
những ứng dụng của thiên văn học cổ đại Trung Hoa. Nó giúp người xưa củng cố
thêm niềm tin và tôn kính với Thần linh (người đã truyền lại nền văn minh cho
họ) cố gắng trau dồi đạo đức và sống thuận theo ý trời để đạt được sự an bình
trường tồn cho quốc gia và dân tộc.
Trước thế kỷ 16, phương Đông (Trung Hoa, Ấn Độ, Việt Nam, Nhật
Hàn) quả thật đã đi trước phần còn lại của thế giới, họ đã có những nghiên cứu
rất sâu sắc về bầu trời, các vì sao và ứng dụng của chúng đến với vận mệnh con
người và quốc gia, quân sự, phong thủy, v.v.
Nhưng thế sự biến đổi vô thường đã làm mất đi hầu hết những tinh
hoa quan trọng nhất, làm biến dị những gì còn sót lại. Điều đó khiến cho hậu
nhân ngày nay nhắm mắt mà cười chê ông cha là lạc hậu, trong khi hàng năm vẫn
vô tư bái lạy một cách hàm hồ để cầu mong tiêu tai giải nạn, thăng quan phát
tài.
Mong rằng bài viết này sẽ giúp mọi người chúng ta có cái nhìn
đúng đắn hơn để đem lại hạnh phúc cho bản thân bằng cách sống cuộc sống đúng
đắn và đạo đức, đừng tiêu tốn thời gian và tiền bạc một cách vô bổ nữa. Chúc
mọi người một năm mới không cần cúng sao cũng an lành và hạnh phúc!
Xem giờ và hướng dẫn cúng RẰM THÁNG GIÊNG đúng cách để
gian đình an lành, sung túc
Ngoài ra, trong ngày này, người Việt rất coi trọng lễ cúng tại
nhà và nhiều gia đình coi đây là ngày quan trọng trong năm nên cúng lễ rất chu
đáo, cẩn thận. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết cúng lễ đúng và vào thời gian
nào cho phù hợp, mời mọi người tham khảo cách cúng rằm tháng giêng chuẩn nhất
như sau:
1. Khung giờ vàng để cúng rằm tháng giêng
Năm mới Mậu Tuất 2018, rằm tháng Giêng rơi vào ngày 2/3 dương
lịch nên thời gian cúng rằm tháng Giêng tốt nhất là vào giờ Ngọ (từ 11h đến
13h) ngày 2/3 dương lịch (tức ngày 15/1/2018 âm lịch) vì đây là thời khắc Thần
Phật giáng thế.
Tuy nhiên, nếu không sắp xếp
2. Mâm cúng Rằm tháng Giêng cần chuẩn bị những gì?
– Mâm cỗ cúng Phật bao gồm:
+ Hoa quả tươi được bày vào đĩa
+ Chè xôi
+ Các món đậu
+ Canh xào chay
+ Bánh trôi nước
+ Chè xôi
+ Các món đậu
+ Canh xào chay
+ Bánh trôi nước
Cỗ chay tùy loại sẽ có 10 đến 25 món khác nhau, trong đó, các
món ăn phải có màu sắc phong phú, đẹp mắt tượng trưng cho ngũ hành.
– Mâm cỗ cúng gia tiên bao gồm:
+ 4 bát ninh măng, bát miến, bát mọc.
+ Đĩa thịt lợn hoặc thịt gà, đĩa giò hoặc chả, đĩa nem thính hoặc đĩa xào, đĩa dưa muối, đĩa xôi hoặc bánh chưng và bát nước chấm.
+ Hương, hoa tươi, quả tươi, vàng mã, đèn nến, trầu cau, rượu trắng, thuốc lá…
+ Đĩa thịt lợn hoặc thịt gà, đĩa giò hoặc chả, đĩa nem thính hoặc đĩa xào, đĩa dưa muối, đĩa xôi hoặc bánh chưng và bát nước chấm.
+ Hương, hoa tươi, quả tươi, vàng mã, đèn nến, trầu cau, rượu trắng, thuốc lá…
3. Bài văn khấn cúng rằm tháng giêng tại nhà
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.
Con kính lạy Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại.
Tín chủ (chúng) con là:……Ngụ tại:…..Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm… gặp tiết Nguyên tiêu, tín chủ con lòng thành, sửa sang hương đăng, sắm sanh lễ vật, dâng lên trước án.
Chúng con kính mời ngày Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài linh thiêng nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.
Chúng con kính mời các các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ………………. nghe lời khẩn cầu, kính mời của con cháu, giáng về chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.
Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.
Con kính lạy Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại.
Tín chủ (chúng) con là:……Ngụ tại:…..Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm… gặp tiết Nguyên tiêu, tín chủ con lòng thành, sửa sang hương đăng, sắm sanh lễ vật, dâng lên trước án.
Chúng con kính mời ngày Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài linh thiêng nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.
Chúng con kính mời các các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ………………. nghe lời khẩn cầu, kính mời của con cháu, giáng về chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.
Tín chủ con lại kính mời Ông bà Tiền chủ, Hậu chủ tại về hưởng
lễ vật, chứng giám lòng thành phù hộ độ trì cho gia chung chúng con được vạn sự
tôn lành. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng an bình.
Nam mô A-di-đà Phật! (3 lần, 3 lạy)
Nam mô A-di-đà Phật! (3 lần, 3 lạy)
Đi rằm tháng giêng tuyệt đối đừng xin những điều cấm
kị này kẻo xui xẻo ám vận!
Khi đi chùa, nhất là đi chùa dịp đầu năm gia chủ chớ dại cầu xin
những điều sau kẻo Thần Phật quở trách, xui xẻo ám vận.
Đi lễ chùa những ngày cuối tháng và ngày rằm chính là một trong
những phong tục tập quán lâu đời của người Việt. Tuy nhiên, khi đi chùa dịp đầu
năm, nhất là rằm tháng giêng gia chủ chớ dại cầu xin những điều dưới đây kẻo
đắc tội với Thần Phật, bề trên.
Cầu tiền tài, danh vọng
Là con người, ai cũng mong muốn mình có cuộc sống sung túc, đầy
đủ. Thế nhưng, nếu muốn có vật chất chính bạn phải tự cố gắng phấn đấu, lao
động để đạt được mong ước.
Khi đến chùa, bạn không nên cầu tiền tài danh vọng bởi Thần Phật
chẳng bao giờ ban phúc hay gieo họa cho ai. Chỉ khi bạn tự nỗ lực mới mong được
gặt hái thành quả đúng như câu “gieo nhân nào gặt quả nấy”.
Cầu có quý nhân giúp đỡ
Cuộc sống khó tránh khỏi những lúc khó khăn, hoạn nạn và va vấp.
Thế nhưng, thay vì cầu trời khấn Phật có người giúp đỡ mình những khi khốn khó
gia chủ hãy học cách tự lực cánh sinh. Chỉ khi tự chiến thắng chính mình bạn
mới mong làm chủ vận mệnh, đón chào may mắn.
Cầu mong được phúc đáp
Khi làm việc thiện, bạn hãy thực hiện bằng sự bao dung, trái tim
lương thiện. Đừng mong được người khác đáp đền, cũng đừng vì muốn tích đức nên
ra sức kinh bang tế thế. Hãy học cách sống từ – bi- hỷ- xả để phúc đức tự tìm
đến bên mình.
Cầu làm ăn thắng lợi
Mỗi thành công là cả một quá trình lao động miệt mài, sáng tạo
không ngừng và nếm trải vô vàn thất bại. Vậy nên, người xưa mới có câu “thất
bại là mẹ thành công”, gia chủ chớ dại cầu ăn nên làm ra bởi thứ gì càng dễ có
được sẽ càng dễ mất đi. Chỉ những giá trị được gầy dựng vững chắc mới tồn tại
lâu dài, bền bỉ theo thời gian.
Vậy đi Chùa rằm tháng giêng gia chủ nên cầu gì?
Các chuyên gia tâm linh khuyên rằng, dù là rằm tháng giêng hay
các ngày lễ khác trong năm, phật tử đi chùa chỉ nên cầu xin sức khỏe, bình an.
Ngoài ra, gia chủ cũng nên ăn năn hối cãi trước những lỗi lầm, sai trái mình đã
gây nên và năng làm việc thiện để tu tâm tích đức.
10 mối nhân duyên kiếp trước và 12 luật nhân quả ảnh
hưởng đến cuộc đời của con người
Cuộc sống con người chỉ là một giai đoạn trong dòng chảy luân
hồi. Kiếp này nối tiếp kiếp khác, thừa hưởng và kế thừa lẫn nhau. Con người gặp
nhau là bởi chữ duyên, sống và yêu nhau là bởi chữ nợ.
Nhân duyên là tiền định từ kiếp trước, việc xảy ra trong đời này
của một người đều là những kết quả gây ra từ kiếp trước.
10 loại nhân duyên kiếp trước ai cũng nên nhớ
1. Người kiếp này may mắn có địa vị, được quyền cao chức trọng,
là người có quyền, có thế thì kiếp trước đều là những người lễ phép, biết giữ
tôn nghiêm.
2. Người kiếp này mà giàu sang và phú quý thì ắt kiếp trước cũng
đều là những người đã từng bố thí, cứu tế và cho đi rất nhiều.
3. Người kiếp này được mọi người yêu mến và lắng nghe chính là
kết quả của việc kiếp trước họ đã tu nhân tích đức, biết lấy khiêm nhường và
nhẫn nhịn làm niềm vui.
4. Người kiếp này mà sống thọ, có sức khỏe dồi dào, hiếm hay
không bị bệnh tật đa phần kiếp trước đều là người luôn giữ vững giới cấm và rất
coi trọng sự sống.
5. Người nào kiếp này có cá tính điềm đạm, cư xử bình tĩnh, hành
xử không bao giờ hấp tấp vội vàng, cả trong nói năng và trong hành động đều rất
cẩn trọng, biết chừng mực thì ắt hẳn kiếp trước đều là những người đã từng tu
thiền định, tâm tưởng thanh tịnh.
6. Người mà kiếp này có địa vị thấp kém, sống đời nghèo hèn đa
phần là bởi ở kiếp trước đã không biết lễ phép và coi thường người khác.
7. Người kiếp này lớn lên đoan chính, dung mạo xinh đẹp, thần
thái rạng ngời là do kiếp trước không có nhiều tính sân hận, không có nhiều bực
dọc, mệt mỏi mà còn có tâm hoan hỉ làm phước và được sự thương yêu quý mến của
người khác.
8. Người kiếp này sạch sẽ, khỏe mạnh là vì kiếp trước không bao
giờ đánh người, tâm luôn từ bi lấy thiện đãi người.
9. Người kiếp này ngốc nghếch là do kiếp trước đã không muốn
nhận sự dạy dỗ, luôn chỉ bảo người khác.
10. Người mà kiếp này làm nô lệ hay làm kẻ ở cho người khác thì
đa phần là do kiếp trước đã thiếu nợ, có vay nhưng chưa hoặc không trả người
ta.
12 đường nhân quả báo ứng ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đời con
người
1. Người sẵn lòng cho đi sẽ khiến phúc báo càng ngày càng đến
nhiều.
2. Người biết cảm ơn, sẽ khiến thuận lợi càng ngày càng nhiều
hơn.
3. Hay giúp đỡ người khác thì quý nhân sẽ càng ngày càng nhiều.
4. Người hay phàn nàn sẽ càng ngày càng có nhiều phiền não.
5. Người biết đủ, biết thỏa mãn sẽ càng ngày càng có nhiều niềm
vui, niềm hạnh phúc.
6. Người chỉ biết trốn tránh thất bại, thử thách, thì thường
thất bại càng đến nhiều hơn.
7. Người biết chia sẻ với người khác, sẽ càng ngày càng có nhiều
bạn.
8. Người hay giận giữ, bực bội, bệnh tật sẽ sinh ra càng ngày
càng nhiều.
9. Ưa thích chiếm tiện nghi sẽ khiến cuộc đời càng ngày càng
nghèo khó.
10. Người hay dùng tiền tài giúp người khác, phú quý sẽ đến
nhiều hơn.
11. Người chỉ ưa thích được hưởng phúc, thường sẽ bị nhiều khổ
đau.
12. Người chăm chỉ học tập sẽ khiến trí tuệ ngày càng phong phú.
Những đứa trẻ kì lạ có khả năng nhớ được tiền kiếp của mình.
Sống trên đời không thể chỉ biết duy nhất có bản thân mình,
ngang nhiên hưởng thụ hay làm điều ác. Bởi cuộc đời có kiếp trước kiếp sau,
nhân duyên nhiều kiếp không dễ gì mà đứt đoạn.
Lời Đức Phật : Đồng tiền thế gian là con rắn độc đáng
sợ
A Nan dừng bước, nhìn theo hướng tay Đức Phật chỉ và trả lời:
“Dạ thưa Sư Tôn quả đúng là một con rắn độc đáng sợ!”
Ở gần nơi Đức Phật và A Nan đang đứng nói chuyện, có một lão
nông đang cày ruộng. Ông lão nghe thấy cuộc nói chuyện của Đức Phật liền đi về
phía trước nơi gò đất mà Đức Phật chỉ tay, xem có rắn độc thật không.
Nhưng khi người nông dân tới gò đất và đào lên thì phát hiện một
hũ vàng chôn dưới đất. Lão nông lẩm bẩm: “Rõ ràng đây là một hũ vàng, thế mà
các hòa thượng lại nói là rắn độc, thật không hiểu được rốt cuộc là họ đang nghĩ
cái gì nữa”.
Sau khi đào được hũ vàng, người nông dân vội vàng mang về nhà.
Bỗng nhiên có được của cải “từ trời rơi xuống”, cuộc đời lão nông thay đổi
nhanh chóng không ngờ, không còn phải sống cảnh nghèo túng vất vả, ngày ngày
không còn phải lo ba bữa ăn cùng cực như trước đây nữa.
Không những không cần phải lo lắng về ăn uống sinh hoạt, gia
đình ông còn có thể mua thêm nhiều đồ dùng, quần áo mới, hằng ngày còn được
thưởng thức những món ngon vật lạ.
Những
người hàng xóm của gia đình lão nông chứng kiến sự thay đổi đột ngột đó đều cảm
thấy nghi ngờ. Chỉ trong thời gian ngắn, tin gia đình lão nông trở nên giàu có
lưu truyền khắp bốn phương.
Không lâu sau tin đồn lan tới tai của quan phủ, quan phủ cho gọi
lão nông tới và hỏi: “Nghe nói gia cảnh nhà ngươi trước đây nghèo khó, nhưng
gần đây chỉ trong một đêm bỗng nhiên giàu có. Tiền của nhà ngươi rốt cuộc từ
đâu mà có, có phải đi ăn trộm của người ta không? Hãy mau chóng khai thực đi”.
Bởi không trả lời được lai lịch của số vàng kia, lại cũng không
cách nào chứng minh mình không phải là ăn trộm, nên lão nông bị quan phủ giam
trong ngục, cả ngày bị chất vấn hỏi tội vô cùng mệt mỏi.
Người nhà của lão nông liền mang vàng đi hối lộ cho quan phủ, hy
vọng có thể bảo toàn tính mạng cho lão. Nhưng mặc dù tiêu hết số vàng có trong
nhà rồi vẫn không cứu được lão.
Cuối cùng lão nông bị phán quyết tử hình. Ngày lão bị đưa đi,
vừa nhìn thấy đoạn đầu đài liền vô cùng sợ hãi, miệng không ngừng kêu gào:
“Thật đúng là một con rắn độc rồi! Đức Phật Thích Ca, ngài A Nan ơi đúng là một
con rắn độc rất lớn!”.
Quan phủ nghe thấy những lời nói kỳ lạ của người nông dân, trong
lòng cảm thấy nghi ngờ, cho rằng đằng sau tất có duyên cớ gì ẩn khuất, liền bẩm
báo sự việc này cho đức vua.
Đức vua nghe xong lại càng thêm vạn phần ngờ vực, liền cho gọi
lão nông đến và hỏi: “Này lão nông, ngươi phạm tội ăn cướp, bị phán tội tử
hình. Khi lên đoạn đầu đài tại sao lại không ngừng kêu la? Câu nói đó có nghĩa
là gì?”.
Lão nông vô cùng kinh sợ bẩm báo với nhà vua: “Bẩm đức vua, một
hôm khi con đang cày ruộng thì gặp Đức Phật Thích Ca và ngài A Nan đi ngang
qua. Họ nhìn gò đất có chôn một hũ vàng và nói nơi đó có một con rắn độc lớn.
Nhưng con lại cứ cố tình không tin, nên sau đó tự mình ra đó đào lên và thấy đó
là một hũ vàng.
Con mang nó về nhà và mới bị rơi vào bước đường cùng như ngày
hôm nay. Bây giờ thì con mới hiểu được vàng bạc đúng là một con rắn độc. Mặc dù
vàng bạc có thể giúp con trở nên giàu có, nhưng ngược lại cũng có thể làm con
mất mạng. Đúng là so với rắn độc thì vàng bạc còn đáng sợ hơn nhiều!”.
Tiếp đó ông dùng thơ nói với đức vua:
Đức Phật nói đó là con rắn độc,
A Nan cũng nói đó là con rắn độc.
Con rắn đó độc không gì sánh bằng, tới hôm nay mới hiểu ra được.
Người ngu dốt thường hay mê hoặc, coi vàng bạc như là báu vật.
Bởi mê mờ vô lối, mới rơi vào vực sâu thống khổ.
Chỉ có vứt đi ngu muội trong đầu, mới không bị mê hoặc bởi tiền bạc.
A Nan cũng nói đó là con rắn độc.
Con rắn đó độc không gì sánh bằng, tới hôm nay mới hiểu ra được.
Người ngu dốt thường hay mê hoặc, coi vàng bạc như là báu vật.
Bởi mê mờ vô lối, mới rơi vào vực sâu thống khổ.
Chỉ có vứt đi ngu muội trong đầu, mới không bị mê hoặc bởi tiền bạc.
Đức vua
nghe được những lời chân thành tha thiết từ tâm của người nông dân, trong lòng
bừng tỉnh triết lý của Đức Phật, và tin tưởng vào những điều người nông dân kể.
Cuối cùng đức vua phán quyết người nông dân vô tội và thả ông ta
về. Người nông dân từ bấy giờ chăm chỉ làm lụng, không tham lam bất kể thứ gì
không phải của mình, giữ đời thanh sạch nhẹ nhàng, an vui.
Có thể kiềm chế nóng giận mới thành công, bài học từ
ông vua dầu lửa giàu có nhất hành tinh
Cơn nóng giận quả thật là một hòn đá thử vàng, rất nhiều người
đã thất bại, thua ở chỗ không khống chế được cảm xúc của bản thân, người thành
công thường thường chính là người làm chủ được cơn nóng giận của mình.
Cuộc nói chuyện của ông vua dầu mỏ Rockefeller
Chuyện xảy ra với ông Edward Bedford. Ông là thành viên ban giám
đốc của công ty dầu lửa do John Rockefeller đứng đầu (Vào cuối thế kỷ 19,
Rockefeller là người giàu nhất hành tinh, và công ty của ông là số 1 thế giới
về dầu mỏ). Bedford đã có một quyết định sai lầm làm công ty thiệt hại hơn 2
triệu đôla.
Khi câu chuyện khủng khiếp về sự thiệt hại trên xảy ra, mọi
người biết tin và ai cũng rất lo lắng nên tránh gặp mặt Rockefeller. Tất cả đều
sợ liên lụy. Trừ duy nhất một người, chính người đã đưa ra quyết định sai lầm
kia – Edward Bedford.
Rockefeller hẹn gặp Bedford. Bedford đến rất đúng giờ và chuẩn
bị sẵn tinh thần để nghe những gì tồi tệ nhất từ Rockefeller. Ông cũng đã chuẩn
bị sẵn tinh thần để đón nhận những thông tin đen tối nhất.
Khi
Bedford bước vào phòng, ông vua dầu lửa Rockefeller đang ngồi và chăm chú viết
gì đó trên trang giấy. Khi Rockefeller ngẩng lên ông đã nói rằng: “Ồ, thì ra là
anh, Edward Bedford. Tôi nghĩ chắc anh cũng đã biết tổn thất của chúng ta rồi,
tôi đã suy nghĩ rất nhiều”. Rồi Rockefeller đã đưa tờ giấy vừa ghi cho Bedford,
trong đó đã ghi sẵn những gì mà ông muốn nói.
Khi cầm tờ giấy từ tay Rockefeller, Bedford đã đoán được rằng đó
là quyết định cho nghỉ việc. Tuy nhiên, ông hoàn toàn bất ngờ khi trên tờ giấy
mà ông vua dầu lửa vừa ghi lại là: “Những ưu điểm của Bedford”.
Trong tờ giấy này Rockefeller liệt kê một loạt những đức tính
tốt, những mặt mạnh của Bedford. Ông vua dầu lửa cũng ghi lại 3 quyết định đúng
đắn của Bedford trước đây, và rằng số tiền kiếm được từ 3 quyết định đúng đó
giúp công ty kiếm được số tiền lớn hơn rất nhiều so với tổn thất 2 triệu đô la
của lần này.
Bedford vô cùng bất ngờ và xúc động. Sau đó ông đã cống hiến hết
mình và để lại những thành quả vô cùng lớn lao cho doanh nghiệp sau này. Hơn
nữa, khi biết tin, mọi người đã vô cùng khâm phục ông vua dầu lửa.
Chính là như vậy, khi một người phạm phải sai lầm, hãy nên nhìn
vào ưu điểm của anh ta nhiều hơn, từ đó bình tĩnh lại để có thể đưa ra quyết
định lý trí, khách quan.
Chủ tịch công ty Đức Long thiện giải lỗi lầm của nhân viên gây
nên hiệu quả kinh ngạc
A Giang – Giám đốc tiêu thụ của công ty Đức Long Hồng Kông (Đức
Long là tập đoàn kinh tế tư nhân hàng đầu Việt Nam), bởi đưa ra phán đoán sai
lầm về thị trường, đã tạo thành tổn thất 10 triệu đôla Mỹ cho công ty, A Giang
cảm thấy xấu hổ, bèn đến gặp chủ tịch xin từ chức để tạ lỗi.
Ông Giải Thế Long, chủ tịch của công ty Đức Long, đã xé đôi lá
đơn từ chức ngay trước mặt anh, và cười nói với anh rằng: “Anh đang đùa đấy ư?
Công ty vừa mới tiêu tốn hết 10 triệu đôla Mỹ tiền bồi thường ở trên người anh,
anh không nghĩ cách kiếm số tiền đó trở về mà lại nghĩ đến bỏ đi là sao!”.
A Giang nghe thấy lời này, hết sức bất ngờ, lập tức chuyển từ hổ
thẹn sang phấn đấu, biến áp lực thành động lực, trong thời gian một năm sau đó,
đã tạo nên khoản lợi nhuận vượt xa rất nhiều con số 10 triệu đô cho công ty.
Lời
bàn:
Rất nhiều người trong lúc tức giận sẽ nổi cơn tam bành, khi cấp
dưới phạm phải sai lầm sẽ nghiêm khắc quở trách lỗi lầm của anh ta, rồi sau đó
đưa ra hình phạt nghiêm khắc, sa thải, bồi thường thiệt hại, có đôi khi còn đưa
ra quyết định xử lý một cách thái quá.
Nhưng một người trong cơn giận dữ, thì quả thật rất khó đưa ra
phán đoán một cách lý trí, khách quan, chính xác, từ đó có thể đưa ra phương án
giải quyết sáng suốt, hợp tình hợp lý, điều này đã tạo thành “giận mất hết cả
lý trí”, kết quả chính là sai lầm chồng lên sai lầm.
Edward Bedford nói: “Tôi không bao giờ quên được dáng vẻ bình
tĩnh của ông Rockefeller khi đối mặt với vấn đề hóc búa. Từ đó trở về sau, mỗi
khi tôi không thể kiềm chế bản thân, trong lúc muốn nổi nóng với ai đó, liền
cưỡng ép bản thân mình ngồi xuống, lấy giấy và bút ra, viết ra ưu điểm của
người đó.
Mỗi khi tôi hoàn thành xong bản liệt kê này, ngọn lửa giận dữ
của tôi cũng theo đó tiêu mất, sau khi bình tâm lại thì đã có thể nhìn nhận vấn
đề một cách lý trí hơn. Về sau cách làm này đã dần dần trở thành thói quen
trong công việc của tôi. Không nhớ rõ đã bao nhiêu lần rồi, nó đã ngăn tôi làm
ra cái chuyện ngu xuẩn… nổi giận, sẽ tránh đưa tới hậu quả phải trả một cái giá
nặng nề trong kinh doanh”.
Giải Thế Long, Edward Bedford, John D. Rockefeller đều là những
người có lý trí siêu thường. Họ kiềm chế được cảm xúc xấu tệ của mình, từ đó
đưa ra quyết định sáng suốt, xây dựng đế quốc thương nghiệp của họ.
Khống chế cảm xúc của bản thân, chiến thắng cơn nóng giận của
chính mình, đây vốn không phải là một chuyện đơn giản, nhưng chính là trong
thời khắc kiềm chế được ngọn lửa giận dữ của mình này sẽ trở thành “đường ranh
giới” cho sự thành công hay thất bại, tiến lên hay thụt lùi.
Cuộc đời bạn rốt cuộc là đang ‘gánh nước’ hay ‘đào
giếng’?
Bởi thời gian đi gánh nước thường trùng nhau lại thường xuyên
gặp mặt nên lâu dần hai hòa thượng trở thành bạn bè.
Cứ như
vậy thời gian đi gánh nước dần trôi thấm thoắt đã năm năm. Một ngày nọ Nhị Hưu
lại đi ra suối gánh nước như mọi khi bỗng phát hiện Nhất Hưu không xuất hiện.
Trong lòng Nhị Hưu thầm nghĩ chắc hòa thượng Nhất Hưu ngủ quên mất rồi.
Cứ thế trôi qua đến ngày thứ hai, thứ ba đều không thấy Nhị Hưu
đi gánh nước. Tới cả một tuần rồi qua 1 tháng đều không thấy Nhất Hưu xuất
hiện. Nhị Hưu rất lo lắng liền nghĩ: “Chắc bạn mình mắc bệnh rồi, mình phải đi
hỏi thăm anh ấy một chút, xem có thể giúp gì được không”.
Khi Nhị Hưu lên núi tìm tới ngôi chùa của Nhất Hưu, thì phát
hiện Nhất Hưu đang tập dịch cân kinh trước cổng chùa, nhìn không giống như ốm
đau bệnh tật gì cả. Anh ngạc nhiên hỏi Nhất Hưu hòa thượng: “Nhất Hưu đã một
tháng rồi không thấy anh xuống núi lấy nước, sao anh không đi gánh nước mà vẫn
có nước dùng?”.
Nhất
Hưu cười và đưa Nhị Hưu hòa thượng ra hoa viên sau chùa, chỉ vào giếng nước và
nói: “Năm năm qua mỗi ngày gánh nước xong, tụng kinh xong, tôi đều dùng thời
gian rảnh còn lại để đào cái giếng nước này. Mặc dù có những lúc rất bận rộn
không đào được nhiều, nhưng tôi luôn tự nhủ đào được bao nhiêu thì cứ cố gắng
làm.
Bây giờ giếng đã đào xong, mạch nước cũng đã được khai thông nên
giếng đầy nước rồi, từ nay về sau tôi không phải đi xuống núi gánh nước nữa! Do
vậy tôi có thể tiết kiệm được rất nhiều thới gian làm những việc mình thích, ví
dụ như tập thái cực quyền đây này!”
Từ đó, Nhất Hưu không phải cực nhọc vất vả dành thời gian đi
gánh nước, còn Nhị Hưu thì vẫn vậy hằng ngày đều phải xuống núi, không được
nghỉ ngơi. Đây chính là nguồn gốc câu nói “nhất bất làm nhị bất hưu”, tức là,
làm việc gì cũng làm cho đến nơi đến chốn đến cuối cùng.
Người
thông minh thường dùng thời gian rảnh rỗi của mình để tự giúp mình có thêm thu
nhập hoặc phát triển năng lực của mình ở một phương diện khác để tạo nên nhiều
giá trị và nhận được nhiều thành công hơn trong cuộc sống của chính mình.
Mỗi một thương trường kinh doanh đều tôi luyện tạo ra một loạt
những người giàu có tài hoa; và sự tôi luyện đó của họ vào thời gian nào có lẽ
mọi người đều không hay biết, họ đang âm thầm làm điều gì mọi người cũng không
ai hay; khi người khác chưa hiểu được thời cuộc chưa hiểu được bản chất của sự
việc, thì họ đã tự biết bản thân mình đang làm gì! Vì vậy khi người khác hiểu
rõ được thì họ đã thành công rồi, khi người khác hiểu được thì họ đã trở thành
những người giàu có rồi!
Làm người đào giếng hay làm người gánh nước tất cả đều tự do bản
thân mỗi người quyết định. Gánh nước ở nơi khác về là việc có thể bảo đảm nhu
cầu sinh hoạt trước mắt của bạn trước khi bản thân bạn chưa có một cái giếng.
Nhưng nếu nhìn về lâu về dài, những người có trí tuệ thông minh sẽ muốn tự mình
đào một cái giếng của mình. Đó mới là sự sở hữu nguồn tài nguyên của bản thân,
đó mới chính là nguồn gốc của sự sinh sôi và phát triển.
Đương nhiên người đồng thời vừa gánh nước vừa đào giếng sẽ vất
vả cực nhọc hơn người chỉ đi gánh nước, sẽ phải cố gắng nỗ lực nhiều hơn. Tuy
nhiên, khi bạn đào thành công một cái giếng, nó sẽ mang lại cho bạn và gia đình
bạn một sự báo đáp hậu hĩnh lâu dài!
Muốn bình an và tự tại – Vì sao con người lại không
thử buông xả mọi buồn phiền?
Ai cũng biết hạnh phúc được xây dựng trên nền tảng sự bình an và
tự tại. Đây là ước mơ của cuộc đời mà con người chúng ta ai cũng mong mỏi đạt
tới.
Theo vòng quay thời gian khiến cho nhịp sống càng trở nên hối hả
và gấp gáp hơn. Con người luôn lo toan và tất bật với miếng cơm manh áo để sinh
tồn thì việc tìm được sự thanh thản trong tâm hồn không phải điều dễ dàng. Bởi
vậy, tại sao có rất nhiều người giàu sang, đạt được những gì mình mong muốn
nhưng vẫn không cảm nhận được hạnh phúc. Bởi họ luôn gặp phải căng thẳng, đấu
tranh để giữ vững những gì mà mình đang có.
Trong cuộc sống, khi cảm thấy quá mệt mỏi và căng thẳng thì có
rất nhiều người tìm tới nguồn cội tâm linh như đi chùa lễ Phật để cầu may, cầu
an hoặc đọc những cuốn sách Phật Pháp với mong muốn tìm về sự bình an và giải
tỏa những bế tắc.
Khi đức Phật còn tại thế, Ngài có đặt một câu hỏi cho một vị Sa
môn là: “Tuổi thọ của con người dài trong bao lâu?” và vị Sa môn đã trả lời là:
“Chỉ dài bằng một hơi thở”. Đức Phật nói: “Đúng vậy. Ông là người hiểu đạo”
(trích trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương).
Cuộc
sống mỗi con người chúng ta chỉ tồn tại trong một hơi thở vậy tại sao chúng ta
cứ để tâm mình mãi luẩn quẩn trong “u mê” và “phiền não”?
Nếu như con người biết buông xả trong đời sống hiện tại. Buông
đi những lợi danh, buông đi những hận thù chấp nhặt. Đồng thời xả đi những mưu
cầu tính toán cho bản thân, xả đi những “tham – sân – si” trong cuộc sống
thường nhật thì sẽ tự tìm thấy cho mình niềm an vui và thanh thản trong tâm
hồn.
Bởi khi biết buông xả thì tâm ta mới trong sáng để vượt qua
những cám dỗ của tham, sân, si, của mạn nghi ác kiến để rồi nhìn thấy niềm vui
xung quanh ta.
Có buông xả được thì lòng ta mới rộng mở, ai nói gì không vừa ý
cũng bỏ qua mà không chấp. Nếu ai có làm điều gì xúc phạm cũng dễ dàng tha thứ,
mà nếu có giận có buồn thì chỉ một vài phút hoặc một vài giờ, cùng lắm qua một
đêm rồi quên hết đi cho đời mình được an vui.
Nhưng hãy hiểu rằng buông xả không có nghĩa là buông bỏ, dẹp hết
tất cả để chỉ lo cho bản thân mình. Không có nghĩa là chối bỏ, trốn tránh trách
nhiệm trong cuộc sống.
Là người con Phật, chúng ta buông xả nhưng phải luôn giữ trọn
vẹn trách nhiệm của một con người. Để bồ đề tâm thêm vững chắc, để trả ơn công
lao sinh thành của cha mẹ, để vẫn chu toàn mọi việc, mọi bổn phận.
Tất cả được làm với tấm lòng bao dung mở rộng như một vị Bồ tát,
xử xự theo tinh thần “Từ – Bi – Hỷ – Xả”. Còn đích đến nào tuyệt với hơn khi
biết tìm lại và trở về với chính cuộc sống nội tâm của chúng ta, để trở về với
sự thanh thản trong tâm hồn.
Bởi khi tâm hồn trong sáng, vui vẻ, là chúng ta đang tiến dần
đến mục tiêu, thành công của cuộc sống mà chúng ta mong đợi. Chúng ta làm việc
sẽ tốt hơn, sống đam mê hơn, nhân hậu, tha thứ và rộng mở, học thêm được nhiều
điều…
Song quan trọng nhất là chúng ta được hạnh phúc, nhận nhiều yêu
thương khi biết buông xả, có lẽ đó chính là quy luật và cũng là nghệ thuật
sống, mang lại sự bình an cho mỗi người.
NHỮNG CÂU CHUYỆN CÓ THẬT MINH CHỨNG LUẬT NHÂN QUẢ LUÔN
TỒN TẠI, KHÔNG NÓI CHƠI
1. Chiến dịch diệt chim sẻ
Năm 1958, khi Trung Quốc bắt đầu kế hoạch Đại nhảy vọt, họ khởi
xướng chiến dịch diệt chim sẻ, muỗi, chuột, ruồi. Chim sẻ bị liệt vào danh sách
này vì chúng ăn thóc gạo, gây thiệt hại cho nông dân.
Mao Trạch Đông đã phát động chiến dịch nên người dân tích cực
hưởng ứng, họ đập cửa, nồi niêu khiến lũ chim hoảng sợ bay đi. Các tổ trứng thì
bị đập bể, chim non thì bị giết chết.
Khi chiến dịch này thành công, vụ lúa sau tốt hơn hẳn, người dân
được khen thưởng. Tuy nhiên, người dân Trung Hoa quên mất điều quan trọng, châu
chấu phá hoại mùa màng khủng khiếp hơn chim sẻ và chim sẻ ăn châu chấu. Việc
làm của họ đã gây ra mất cân bằng sinh thái trầm trọng.
Sau đó, châu chấu phát triển dữ dội, chúng tàn phá mọi cánh
đồng. Năm 1960, Mao Trạch Đông nhận ra sai lầm và cho dừng chiến dịch, nhưng
tất cả đã quá muộn. Sự việc dẫn đến một nạn đói lớn ở đất nước này, đã có 30
triệu người chết đói.
2. Chỉ vài giây sau khi giật đồ của một phụ nữ, tên cướp liền bị
xe buýt đâm
Vụ việc hi hữu ở Colombia vào tháng 5/2013 sẽ khiến bạn không
nghi ngờ gì về nghiệp chướng. Một người đàn ông đã cướp điện thoại của một phụ
nữ trên xe buýt và bỏ chạy. Tuy nhiên, trong lúc ôm của tẩu thoát thì hắn đã bị
xe buýt tông trúng.
Mọi người đã giúp đỡ tên cướp và lấy lại điện thoại cho người
phụ nữ kia. May mắn là hắn chỉ bị thương nhẹ và nạn nhân cũng không khởi tố hắn
tội trộm cắp. Toàn bộ sự việc đã được ghi hình bằng camera giám sát và được
phát trên kênh BBC và nhiều hãng truyền thông khác.
3. Người lính thuỷ đánh bộ từng xả thải chất độc trả giá bằng
bệnh tật
Vào những năm 70 của thế kỉ trước, Ron Poirier, một kĩ thuật
viên điện tử thuộc Thủy quân lục chiến Mỹ tại Trại lính Lejeune, bang North
Carolina, đã xả thải hàng trăm lít dung dịch độc hại. Các hoá chất này đã ngấm
vào nguồn nước uống.
Người lính này đã chết do ung thư vào tháng 5/2013, và đây là
một trong số những căn bệnh đã hành hạ những người lính thuỷ đánh bộ và người
dân địa phương do hệ quả của việc xả thải hóa chất ra môi trường. Trước khi
chết, ông nói với hãng tin AP rằng ông cảm thấy đây là cái giá phải trả cho
những tội lỗi mà ông đã gây ra.
4. Gặp quả báo khi thừa nước đục thả câu
Năm 1349, Scotland thấy dịch hạch đang hoành hành ở nước Anh,
đất nước này không còn khả năng chống cự nên đã đưa quân đội sang xâm chiếm.
Tuy nhiên, người tính không bằng trời tính, khi họ vừa đem quân sang thì binh
lính của họ đã bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Họ lập tức rút lui. Vòng tròn nhân
quả là có thật, chẳng những không xâm lược được Anh, họ còn đem “cái chết đen”
về quê hương, khiến gần 5.000 người chết.
5. Cứu người được cứu lại
Hơn 30 năm trước, tiến sĩ Michael Shannon đã cứu sống một cậu bé
sinh non. Người đó là Chris Trokey. Lúc sinh, Trokey chỉ nặng 1,5 kg, tiến sĩ
Michael Shannon đã làm mọi cách để giành lấy mạng sống của đứa bé đó. Ngày đó
ông còn nói, mang lại sự sống cho người khác là điều tuyệt vời, chúng sẽ lớn
lên và biết đâu một ngày nào đó chúng trở lại khi bạn cần.
Điều ông nói đã thành sự thật. Năm 2011, người tiến sĩ giàu lòng
nhân ái ấy gặp tai nạn và mắc kẹt trong chiếc xe đang bốc cháy. Anh lính cứu
hỏa đã cứu thoát ông chính là Chris Trokey.
6.
Triệu phú báo ân
Năm 1993, He Rongfeng, khi đó chỉ mới là một chàng trai 17 tuổi,
nghèo xơ xác, đã quyết định cùng bạn bè lên TP Thái Châu, tỉnh Chiết Giang,
Trung Quốc để lập nghiệp. Không tìm được công việc, anh buộc phải đi ăn xin
trên những con phố để sống qua ngày.
May mắn thay, một ngày nọ, anh nhận được sự giúp đỡ từ một người
phụ nữ trẻ. Đó là cô Dai Xingfen, khi đó đang kinh doanh một quán mì nhỏ cùng
chồng. Thấy tình cảnh đáng thương của He và bạn anh, cô Dai đưa họ về nhà cho ở
nhờ.
Sau đó, Dai đã liên lạc với họ hàng của mình ở những thành phố
khác để nhờ tìm giúp việc làm cho những chàng trai. Tuy nhận được rất nhiều
giúp đỡ từ cô Dai nhưng anh cảm thấy điều quý giá nhất là câu khuyên nhủ của cô
dành cho mình: “Không giàu có thì chẳng có vấn đề gì cả. Làm người quan trọng
nhất là phải luôn cố gắng để sống thật ý nghĩa”.
11 năm trôi qua, chàng trai He ngày nào giờ đã trở thành một
doanh nhân thành đạt, nắm trong tay cả Tập đoàn Jiu Jiu Li Feng ở TP Thẩm
Dương, tỉnh Liêu Ninh. Thế nhưng He không bao giờ quên ơn người từng cưu mang
mình năm xưa. Anh đã bằng mọi cách để tìm kiếm thông tin về gia đình cô Dai.
Cuộc gặp gỡ của họ chứa chan nước mắt. He ngỏ ý muốn tặng gia đình cô Dai 1
triệu nhân dân tệ (khoàng 3,4 tỉ đồng) nhưng cô đã từ chối.
Trước sự kiên quyết của gia đình cô Dai, He quyết định gửi cho
ân nhân của mình một tấm bảng lớn có khắc chữ “Ân trọng như núi” để mãi mãi ghi
nhớ lòng tốt của cô.
Người Phật tử nên làm gì đầu tiên trong ngày đầu năm
mới.
Mỗi dân tộc, dù lớn hay nhỏ, đều có những phong tục tập quán
khác nhau. Trong đó, Tết, tức là năm mới tùy theo lịch của mỗi dân tộc, có thể
nói là lễ quan trọng nhất của bất cứ dân tộc nào. Đối với người Việt Nam, Tết
cổ truyền, tức năm mới theo lịch âm, được xem là quan trọng nhất.
Đón Tết của người Phật tử
Trước hết, sau thời khắc giao thừa, các phật tử thường lựa chọn chùa làm nơi đầu tiên để đến cầu nguyện. Một số đi lễ Phật đầu năm để cầu phước báu và những điều may mắn cho bản thân và gia đình. Họ nghĩ rằng Phật và các Bồ-tát là những bậc siêu phàm, luôn luôn từ bi thương xót chúng sanh và sẽ phù hộ họ khi họ cầu nguyện. Thiết thực hơn, người phật tử thấy rằng lễ chùa đầu năm là cơ hội quý báu để trải nghiệm tâm linh và hòa mình vào không khí thiêng liêng đầu năm nơi chốn thiền môn thanh tịnh. Sự trải nghiệm đó có thể làm cho tâm họ nhẹ nhàng và thư thái. Mặt khác, các phật tử cũng nhân dịp này đến các thầy trong chùa để mừng tuổi và chúc Tết đầu năm.
Trước hết, sau thời khắc giao thừa, các phật tử thường lựa chọn chùa làm nơi đầu tiên để đến cầu nguyện. Một số đi lễ Phật đầu năm để cầu phước báu và những điều may mắn cho bản thân và gia đình. Họ nghĩ rằng Phật và các Bồ-tát là những bậc siêu phàm, luôn luôn từ bi thương xót chúng sanh và sẽ phù hộ họ khi họ cầu nguyện. Thiết thực hơn, người phật tử thấy rằng lễ chùa đầu năm là cơ hội quý báu để trải nghiệm tâm linh và hòa mình vào không khí thiêng liêng đầu năm nơi chốn thiền môn thanh tịnh. Sự trải nghiệm đó có thể làm cho tâm họ nhẹ nhàng và thư thái. Mặt khác, các phật tử cũng nhân dịp này đến các thầy trong chùa để mừng tuổi và chúc Tết đầu năm.
Từ chùa trở về nhà, các phật tử thường có tâm lý xin “lộc chùa”
mang về gọi là lộc đầu năm may mắn. Tập tục “hái lộc”, trước đây, diễn ra ở
đình và chùa nhưng hiện nay tục này hầu như chỉ ở chùa. Các chùa ngày xưa
thường có nhiều cây lớn với nhiều cành lá sum suê nên việc hái lộc ít ảnh hưởng
đến sức khỏe của cây và ít ảnh hưởng đến mỹ quan cây cảnh. Ngày nay, các chùa,
nhất là ở đô thị không gian nhỏ hẹp, thường trồng những cây cảnh nhỏ nên việc
hái lộc sẽ ảnh hưởng đến cây cảnh và mỹ quan sân chùa. Ý thức được điều này,
người phật tử đã thay đổi thói quen bằng cách hoan hỷ nhận những “lộc chùa”
khác (được các chùa chuẩn bị) mang tính biểu tượng như cành hoa, tấm thiệp ghi
câu Phật dạy, bao lì xì nhỏ tượng trưng…Dù hình thức đã thay đổi nhưng ý nghĩa
của nó vẫn là bày tỏ niềm hy vọng có được phúc lộc và may mắn trong một năm
mới.
Một phong tục khác được các phật tử hưởng ứng những năm gần đây
là “hành hương thập tự”. Qua ngày mùng một Tết, một số chùa bắt đầu tổ chức cho
các phật tử đi thăm viếng, lễ Phật và cúng dường các chùa. Mục đích là nhằm tạo
cơ hội cho phật tử gieo duyên, làm phước đầu năm. Nếu mong muốn cầu an thì đây
là cách cầu an đúng tinh thần nhân quả.
Ngoài ra, một số ít các chùa và các thiền viện, nhân dịp đầu
xuân cũng mở các khóa tu đầu năm cho những ai tận dụng kỳ nghỉ để tu học Phật
pháp. Tu tập đúng pháp cũng là cách cầu an hữu hiệu nhất.
Trong những ngày đầu năm mới, các gia đình nên làm những điều
sau để cho cả năm may mắn, tài lộc:
1. Đi chợ Tết mua hoa cảnh
Đầu tiên, tập tục không thể thiếu mỗi khi xuân về là đi chợ Tết
mua hoa cảnh. Nếu như ở miền Nam, người dân đón Tết với cái nắng xuân ấm áp và
những cành mai tươi tắn sắc vàng thì ở miền Bắc vẫn có những bông hoa đào khoe
sắc thắm để xua tan cái không khí lạnh lẽo xứ Bắc. Với quan niệm rằng sau đêm
giao thừa nếu hoa trổ bông có nhiều cánh kép, ba lớp trên đài và mang hình dáng
như bông hồng thì sẽ có nhiều phúc lộc.
2. Thăm mộ tổ tiên
Con cháu thường đi thăm mộ tổ tiên từ khoảng 23 đến 30 tháng
chạp, sửa sang, dọn dẹp để bày tỏ lòng hiếu thảo và mời vong linh tổ tiên về ăn tết
với con cháu.
3. Hái lộc
Hái lộc đầu xuân là một nét đẹp trong ngày Tết truyền thống của
người Việt. Người dân Việt Nam thường đi hái lộc vào đêm giao thừa hoặc sáng
mồng một để cầu một năm mới luôn may mắn và viên mãn, rước lộc về nhà.
03 câu chuyện có thật này sẽ cho bạn biết rằng trong
đời này mọi chuyện đều liên quan luân hồi quả báo
Mẹ tôi năm nay đã gần 90. Cả thời son trẻ của bà gắn liền với
nơi làng quê cổ kính. Ngôi làng không lớn lắm, có một con đường vắt ngang qua
thôn tạo thành ranh giới phân chia giữa “làng Nam” và “làng Bắc”. Thời ấy,
người dân thuần phác, mọi người trong làng chung sống hòa thuận với nhau, hễ
nhà ai có công to việc lớn nào, chưa đến thời gian một bữa cơm thì mọi người
xung quanh đều biết cả.
Dưới đây là ba câu chuyện có thật từng xảy ra trong thời niên
thiếu của mẹ tôi, mà cho tới nay bà vẫn thường kể lại. Hy vọng bạn đọc sẽ tìm
được điều gì đó hữu ích cho riêng mình.
1. Đời trước vay nhiều trả ít, đời sau đẻ trứng hoàn trả nợ
Trong làng mẹ tôi có một hộ gia đình khá giả, nổi tiếng là lương
thiện và luôn khoan dung tử tế với mọi người. Bất cứ ai đến vay gạo hoặc lương
thực, chủ nhà đều nồng nhiệt tiếp đón, hơn nữa người đi vay dù có quên trả lại
thì gia chủ vẫn vui vẻ thoải mái, thậm chí còn không bận tâm kiểm tra xem người
ta có trả đủ cho mình hay không.
Một ngày, nữ gia chủ nhà này có một giấc mơ kỳ lạ. Trong mơ, bà
gặp lại người hàng xóm đã qua đời trước đó. Người hàng xóm ấy nói với bà rằng:
“Lúc còn sống tôi đã nhiều lần vay gạo nhà bà, lần nào cũng được
bà đong cho đầy đấu gạo. Vậy mà khi mang trả, tôi lại cố ý bớt xén mà bà không
hay biết. Nhưng thiếu nợ thì phải hoàn trả, Diêm La Vương phán tôi phải đầu
thai thành gà đẻ trứng mà trả nợ cho bà.
Dưới gầm giường của bà có một cái chậu lớn, bên trong là hơn
chục quả trứng gà, tương ứng với khoản tiền gạo mà tôi còn thiếu. Hôm nay món
nợ đã hoàn trả xong, tôi có thể yên lòng ra đi được rồi”.
Giấc mơ chân thực và rõ ràng khiến bà chủ nhà không khỏi bàng
hoàng. Buổi sáng hôm sau, bà kể lại toàn bộ giấc mộng cho người trong nhà, mọi
người đều cảm thấy ly kỳ, bèn xem thử dưới gầm giường, quả nhiên thấy có một
cái chậu đựng đầy trứng gà, cạnh đó là một con gà mái đã chết.
Câu chuyện trên nhanh chóng lan truyền khắp vùng, ai nấy đều nhớ
mãi. Từ đó, người dân trong làng không ai dám thiếu nợ nữa, những người làm ăn
mua bán cũng không còn cân đo gian lận nữa.
2. Đứa bé mới sinh ra đã biết nói
Ở phía Nam ngôi làng có một hộ gia đình mới sinh con trai. Đứa
bé sinh ra không khóc mà chỉ nhìn chằm chằm vào bàn tay của mình rồi nói:“Ái
chà, tay mình sao lại nhỏ thế này?”. Câu nói ấy khiến cả người nhà và bà đỡ
phải giật mình sửng sốt.
Bà đỡ đánh bạo hỏi rằng: “Vậy cháu là ai?”. Đứa bé nói: “Tôi là
cha của Kim Tứ”.
Bà đỡ nhấc chân của cậu bé lên, vỗ mạnh vào mông đứa trẻ ba cái,
đứa trẻ bỗng chốc òa lên khóc, không khác chi với những em bé sơ sinh khác.
Không bao lâu sau, khi tin tức về cái chết của cha Kim Tứ ở phía
Bắc ngôi làng truyền đến phía Nam, mọi người mới thật sự tin rằng đứa bé ấy
chính là cha của Kim Tứ chuyển sinh. Quê làng chúng tôi gọi hiện tượng này là
“lên bờ ở bên kia sông”.
3. Tôi suýt chút nữa đã đầu thai thành vật nuôi
Đây là câu chuyện riêng của cha nuôi tôi. Giữa trưa hôm ấy, cha
nuôi tôi hốt hoảng chạy đến nói với cha tôi rằng: “Ôi trời ơi, suýt chút nữa
tôi đã biến thành cẩu cẩu rồi!”. Cha tôi vội hỏi rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.
Cha nuôi
tôi kể lại: Khi đang nằm hóng mát trên chiếc chõng tre trước cửa nhà, ông bỗng
mơ thấy một cỗ xe ngựa chạy đến trước mặt. Trên xe có vài thiếu nữ mặc áo hoa
đang cười nói nô đùa rất náo nhiệt. Ông liền nhảy lên xe, trong khi chiếc xe
vẫn chạy về phía cổng thành. Thế rồi, trên xe xảy ra cuộc ẩu đả, ngay trước khi
chiếc xe đi xuyên qua cổng thành, các cô gái trên xe hợp sức đẩy mạnh ông
xuống. Ông ngã nhào xuống đất “bịch” một cái, rồi giật mình tỉnh dậy.
Sau khi tỉnh giấc, ông vào nhà vệ sinh thì thấy ngay trước cửa
có một ổ chó con vừa mới sinh, tất cả đều là chó cái với bộ lông lốm đốm như
màu áo hoa của các cô thiếu nữ. Bên cạnh đó là một con chó đực đã chết. Ông bất
giác hiểu ra rằng, những thiếu nữ mặc áo hoa trên xe là những chú chó con mới
đầu thai. Vừa nghĩ đến đó, ông không khỏi rùng mình ớn lạnh. Ông nói: “Có thể
là do thời gian của tôi chưa đến, hoặc là tôi không phải hóa kiếp thành chó
chăng?”.
Người ta vẫn thường nói đến “luân hồi chuyển thế”, “nghiệp lực
luân báo”; các bậc tiền bối cũng nhắc nhở con cháu rằng, mắc nợ sẽ phải trả,
đời này không trả thì đời sau trả. Nếu ai từng tận mắt chứng kiến những câu
chuyện tương tự như được kể trên đây, có lẽ họ sẽ không còn coi đó là điều mê
tín nữa.
Và cho dù bạn không muốn tin vào luân hồi hay nghiệp quả đi nữa,
thì hẳn bạn cũng đồng ý với tôi rằng: Sẽ không bao giờ phải hối tiếc khi bạn
sống thiện lương và chân thật – đạo lý chẳng phải là như vậy hay sao?
Tâm hồn là có 4 cảnh giới, ai hiểu rõ được ắt sẽ thành
công
Người ta thường hay dùng chức vị và tài năng để đánh giá phẩm
cấp của người đàn ông, dùng dung mạo và khí chất để đánh giá phẩm cấp của người
phụ nữ, nhưng rất ít người đi đánh giá phẩm cấp của tâm hồn.
Tâm hồn là có tầng thứ, hơn nữa tầng thứ của nó lại quyết định
thành bại cả một đời của con người chúng ta.
Cảnh giới cao nhất của tâm hồn là “kính sợ”
Giống như tín ngưỡng và tôn giáo, phần ngoan đạo đó dù cho phong
ba hay bão táp cũng không lay động được. Thương gia coi trọng thành tín, bạn bè
coi trọng thành tâm, vợ chồng lứa đôi coi trọng thành ý – Vì sao lại như vậy?
Bởi thói đời xuống dốc, những thứ vốn là điều căn bản này cũng phải mang ra
tuyên giảng, vì túng thiếu nên mới khát khao có được.
Nếu như mỗi một người đối với quy tắc, điều luật, luân lý đều ôm
giữ lòng kính sợ theo bản năng, trong giới làm ăn xem trọng chữ tín, trong giới
quan chức xem trọng công chính liêm minh, trong quần thể xem trọng nhân nghĩa,
trong tình cảm xem trọng thủy chung, được như vậy thì thế giới này sẽ tốt đẹp
vô cùng.
Nếu một người đàn ông có tâm kính sợ, thế thì anh ta nhất định
là “cực phẩm” (tốt nhất), sự nghiệp nhất định sẽ thành công thuận lợi, gia đình
hạnh phúc, vợ hiền con ngoan, giao thiệp rộng rãi; Còn nếu một người phụ nữ có
tâm kính sợ, thế thì đương nhiên người phụ nữ đó cũng là “cực phẩm”, tài nghệ
song toàn, khí chất phi phàm, giàu lòng nhân ái, thật là hiếm có trên đời.
Cảnh
giới thứ hai của tâm hồn là “từ bi”
Có người nói, mức độ tiến bộ của xã hội được quyết định bởi lòng
từ bi, điều này rất có đạo lý. Mỗi một xã hội đều có kẻ yếu kẻ mạnh, từ xa xưa
đã là mạnh được yếu thua, đến tận hôm nay vẫn là cá lớn nuốt cá bé, cá bé nuốt
tôm con. Nhưng cái mạnh mẽ thật sự chính là mạnh mẽ trong tâm hồn, là tấm lòng
rộng mở của biển lớn dung nạp trăm sông nghìn suối, là khí chất cương trực của
núi cao sừng sững hiên ngang giữa đất trời.
Mỗi một người ngay từ cái ngày cất tiếng khóc chào đời đã định
sẵn con đường nhân sinh mà họ phải đi. Có con đường rất dài, có con đường lại
rất ngắn; có người thì thành công, có người lại thất bại, cũng có người đại
thành đại bại luân chuyển trăm nghìn lần.
Không
kể con đường thế nào, cuối cùng đều sẽ quy về hư vô. Giá trị của sinh mệnh nằm
ở chỗ được người khác cần đến, cũng giống như giá trị của đồng tiền nằm ở chỗ
được người khác tiêu dùng. Con người ta cần phải có lòng từ bi, trong tình
huống khả năng cho phép có thể làm nhiều việc cho người khác, dù đó là chuyện
nhỏ nhặt không đáng kể, cũng đều thể hiện giá trị của sinh mệnh.
Người đàn ông có lòng từ bi sẽ là hàng “thượng phẩm”, anh ta
nhất định là người lương thiện, nhân hậu, mọi việc khiêm nhường, có phong thái
của giới thượng lưu; người phụ nữ có tâm từ bi cũng là “thượng phẩm”, nhất định
là người có tri thức hiểu lễ nghĩa, thông minh hiền thục, có phong thái của
hiền thục nhi nữ.
Cảnh giới thứ ba của tâm hồn là “cảm ân”
Trước kia có bài báo đưa tin về một cụ già kiện 7 người con
không làm tròn trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ. Sau khi xem xong tôi không khỏi
đau lòng, và những vụ việc đau lòng tương tự thì thời nào cũng có.
Một người mà ngay đến cả cha mẹ mình cũng không giữ được lòng
cảm ân, liệu người đó có thể cống hiến được gì cho xã hội đây? Cha mẹ cho chúng
ta sinh mệnh, dành hết tình thương cho chúng ta, cho chúng ta cả một khung
trời, ta nỡ lòng nào khiến nước mắt tang thương trong lòng họ chảy dài đây?
Không yêu thương cha mẹ của mình mà đi yêu thương người khác, là
trái với đạo đức; không kính trọng cha mẹ mình mà đi kính trọng người khác, là
trái với lẽ thường. Theo Hiếu Kinh, lòng cảm ân bắt nguồn từ chữ Hiếu, nếu là
người bất hiếu thì sao dưỡng thành lòng cảm ân?
Người đàn ông biết cảm ân là hàng “thành phẩm”, là người bạn đời
có tinh thần trách nhiệm đáng để tin cậy, là người đàn ông đáng để nương tựa;
người phụ nữ biết cảm ân cũng là “thành phẩm”, nhất định là người phụ nữ chuyên
cần vươn lên, biết yêu thương quan tâm đến gia đình.
Cảnh
giới thứ tư trong tâm hồn là “khoan dung”
Nước không nằm ở độ sâu, dung hòa rồi mới trở thành lớn mạnh,
khoan dung với người khác, cũng là khoan dung với chính bản thân mình. Mỗi một
người đều không thể sóng yên biển lặng mà đi hết cả cuộc đời, đều sẽ gặp phải
chông gai và sóng gió, những người và sự việc đã qua quả thật khiến chúng ta
chua xót.
Hãy khoan dung với mọi người, tha thứ cho người khác chính là
thiện đãi chính mình, bởi cứ mãi canh cánh trong lòng chỉ có thể làm rộng thêm
vết thương của chúng ta.
Trong
quá trình trưởng thành, ai ai cũng mắc nhiều sai lầm, có những việc vẫn có thể
vãn hồi, có những việc không thể nào bù đắp lại được.
Hãy tha thứ cho quá khứ của chúng ta, bởi tha thứ cho quá khứ
của ta chính là thiện đãi tương lai của mình; xem những trải nghiệm trong quá
khứ là món quà của sinh mệnh, thì cuộc sống trong tương lai mới có thể tăng
thêm màu sắc. Cớ sao cứ phải đợi đến ngày cuối cùng của cuộc đời mới biết được
sinh mệnh đáng quý như thế nào? Có thể sống cuộc sống bình an thì đã hạnh phúc
lắm rồi!
Tâm hồn là có phẩm cấp, phẩm cấp của tâm hồn quyết định nhân
cách, quyết định phẩm cách, quyết định vận mệnh một đời của con người./.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét